Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện Chương trình phát triển vật liệu xây không nung theo Quyết định số 567/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 13/2017/TT-BXD quy định tỷ lệ sử dụng vật liệu xây không nung bắt buộc đạt từ 50% đến 90% tại các đô thị, ngành xây dựng đang đối mặt với bài toán cấp bách về vật liệu kết dính tương thích. Tại tỉnh Gia Lai, theo Quyết định số 736/QĐ-UBND ngày 18/10/2017, lộ trình chấm dứt gạch đất sét nung và tăng cường sản xuất, sử dụng vật liệu xây không nung đến năm 2020 đã được ban hành quyết liệt. Tuy nhiên, tình trạng nứt khối xây khi sử dụng vữa xi măng cát thông thường đang là rào cản lớn khiến vật liệu không nung chưa được ứng dụng rộng rãi. Nguyên nhân cốt yếu xuất phát từ sự chênh lệch độ co ngót và tính hút nước giữa vữa thông thường và gạch không nung. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên cát tự nhiên ngày càng cạn kiệt, đẩy chi phí xây dựng tăng cao và gây đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái lòng sông.

Luận văn tập trung nghiên cứu chế tạo thành công loại vữa xây gia cố vôi sử dụng 100% nguồn đất đồi Feralit tại xã Hà Bầu, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để thay thế hoàn toàn cát tự nhiên. Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát đặc tính cơ lý đất đồi, thiết kế thành phần cấp phối và xác định tỷ lệ vôi gia cố tối ưu (khảo sát ở 3 mức: 5%, 10% và 15%) cho 3 cấp mác vữa gồm 5,0 MPa, 7,5 MPa và 10,0 MPa. Nghiên cứu thực nghiệm được triển khai toàn diện trong năm 2019. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn to lớn khi giúp giảm 100% lượng cát sông khai thác, hạ giá thành sản xuất vữa khoảng 20% đến 30% và giải quyết triệt để sự cố nứt vỡ khối tường xây gạch không nung từ đất đồi tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai nền tảng lý thuyết cơ học vật liệu vô cơ cốt lõi: lý thuyết thủy hóa đóng rắn của xi măng pooclăng và lý thuyết tương tác phản ứng vôi canxi Ca(OH)2 với các khoáng sét, oxit silic và oxit nhôm hoạt tính trong đất đồi Feralit.

Về mô hình nghiên cứu, đề tài phát triển mô hình vữa tam hợp cải tiến với sự thay thế toàn bộ cốt liệu cát bằng đất đồi Feralit tự nhiên. Các khái niệm kỹ thuật chính bao gồm:

  • Vữa tam hợp (vữa bata): Hỗn hợp gồm chất kết dính vô cơ, vôi xây dựng, cốt liệu và nước, có khối lượng thể tích tiêu chuẩn từ 1800 đến 2000 kg/m3 và độ giữ nước cao.
  • Cường độ chịu nén: Chỉ tiêu cơ lý quan trọng nhất để đánh giá chất lượng và phân loại mác vữa, được xác định qua lực nén phá hủy mẫu thử lăng trụ sau 28 ngày bảo dưỡng ẩm theo TCVN 3121-11:2003.
  • Độ lưu động: Đại lượng biểu thị tính công tác của hỗn hợp vữa tươi đo trên bàn dằn theo TCVN 4314:2003 với tiêu chuẩn kỹ thuật không nhỏ hơn 75 mm.
  • Gạch không nung đất đồi: Vật liệu xây tự đóng rắn đạt cường độ chịu lực mà không qua nung nhiệt, chiếm thị phần sử dụng ngày càng tăng bên cạnh 75% gạch xi măng cốt liệu trên toàn quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là dữ liệu thực nghiệm sơ cấp thu thập trực tiếp trong phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng năm 2019. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm hơn 54 mẫu thử lăng trụ kích thước tiêu chuẩn 40x40x160 mm được đúc, bảo dưỡng và thí nghiệm nén tại các mốc 3 ngày, 7 ngày và 28 ngày tuổi, cùng 9 mẻ trộn đo độ lưu động vữa tươi và các tổ mẫu phân tích khối lượng thể tích.

Phương pháp chọn mẫu tuân thủ nguyên tắc lấy mẫu đại diện ngẫu nhiên từ mỏ đất đồi xã Hà Bầu theo TCVN 7572:2006 và mẫu xi măng PCB40 Nghi Sơn theo TCVN 6260:2009. Phương pháp phân tích thực nghiệm cơ lý được lựa chọn vì đảm bảo tính chuẩn hóa, tính khách quan và độ tin cậy tuyệt đối theo hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN). Các chỉ tiêu đầu vào được kiểm soát chặt chẽ: đất đồi Feralit có mô đun độ lớn Mđl = 2,306, khối lượng thể tích xốp đạt 1,352 g/cm3; xi măng có độ mịn sót sàng 0,09 mm là 2,92% (đạt yêu cầu dưới 10%), thời gian đông kết bắt đầu 130 phút và kết thúc 240 phút. Toàn bộ chuỗi thí nghiệm được thực hiện xuyên suốt trong giai đoạn từ tháng 1/2019 đến tháng 10/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, đất đồi Feralit tại xã Hà Bầu hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của cốt liệu mịn thay thế cát. Kết quả phân tích thành phần hạt theo TCVN 7572:2006 cho thấy mô đun độ lớn đạt Mđl = 2,306, lượng hạt sót tích lũy trên sàng 0,14 mm đạt 92,44%, tỷ lệ hạt lớn hơn 5 mm chỉ chiếm 1,66% và khối lượng thể tích xốp trung bình đạt 1,352 g/cm3.

Thứ hai, hỗn hợp vữa tươi sử dụng đất đồi và vôi đạt tính công tác rất tốt. Độ lưu động đo trên bàn dằn dao động từ 101 mm đến 120 mm trên tất cả các cấp phối. Cụ thể, vữa mác 5 MPa đạt độ lưu động từ 101 mm đến 104 mm; mác 7,5 MPa đạt từ 101 mm đến 110 mm; mác 10 MPa đạt từ 117 mm đến 120 mm. Mặc dù khi tăng hàm lượng vôi từ 5% lên 15% làm độ lưu động giảm nhẹ từ 2,8% đến 8,1%, mọi mẫu thử đều vượt xa yêu cầu tối thiểu 75 mm của TCVN 4314:2003.

Thứ ba, tỷ lệ gia cố vôi có tác động quyết định đến sự gia tăng cường độ nén 28 ngày (R28). Đối với cấp phối vữa mác 5 MPa:

  • Gia cố 5% vôi: Cường độ nén R28 đạt trung bình 4,27 MPa.
  • Gia cố 10% vôi: Cường độ nén R28 đạt trung bình 5,10 MPa (tăng 19,4% so với mức 5% vôi).
  • Gia cố 15% vôi: Cường độ nén R28 đạt trung bình 5,85 MPa (tăng 37,0% so với mức 5% vôi và vượt 17,0% so với mác thiết kế 5,0 MPa).

Thứ tư, tốc độ phát triển cường độ sớm ở 3 ngày tuổi (R3) và 7 ngày tuổi (R7) diễn ra rất nhanh và ổn định. Cấp phối mác 5 MPa gia cố 15% vôi đạt R3 = 3,28 MPa (tương đương 56,1% cường độ 28 ngày) và đạt R7 = 4,48 MPa (tương đương 76,6% cường độ 28 ngày), đáp ứng hoàn hảo yêu cầu chịu lực sớm trong thi công xây dựng thực tế.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng vượt trội về cường độ nén khi tăng tỷ lệ vôi lên 15% được giải thích bởi phản ứng pozzolanic giữa vôi canxi hoạt tính và các thành phần khoáng sét trong đất đồi Feralit. Phản ứng này tạo ra các khoáng canxi hydrat silicat (C-S-H) và canxi hydrat aluminat (C-A-H) giúp lấp đầy lỗ rỗng mao dẫn, làm chặt mạng vi cấu trúc của vữa đã đóng rắn. So với vữa tam hợp cát vàng truyền thống theo định mức tại Quyết định số 1329/QĐ-BXD, vữa đất đồi Feralit gia cố vôi có khả năng giữ nước vượt trội, hạn chế tối đa việc mất nước nhanh sang thân gạch không nung, loại bỏ tận gốc hiện tượng co ngót chênh lệch gây nứt tường.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn rõ nét qua biểu đồ động học phát triển cường độ nén theo thời gian (R3, R7, R28) và bảng tổng hợp thành phần định mức cấp phối cho 1 m3 vữa. Trên biểu đồ phát triển cường độ, đường biểu diễn của cấp phối gia cố 15% vôi luôn duy trì vị trí cao nhất, tạo khoảng cách vượt trội từ 0,75 MPa đến 1,58 MPa so với cấp phối 5% vôi ở mọi giai đoạn đóng rắn, chứng minh tính ưu việt của hàm lượng vôi 15%.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất và thi công, đề tài đưa ra 4 giải pháp cụ thể:

  1. Chuẩn hóa công đoạn sàng tuyển nguyên liệu đất đồi: Các cơ sở sản xuất cần bố trí hệ thống sàng lưới 5 mm để loại bỏ triệt để 1,66% lượng hạt ngoại cỡ trước khi đưa vào nhào trộn nhằm bảo đảm độ đồng nhất tối đa của vữa xây. Giải pháp này cần áp dụng ngay từ quý I/2020 tại các xưởng sản xuất vật liệu huyện Đak Đoa.
  2. Áp dụng tỷ lệ cấp phối chuẩn 15% vôi cho công trình: Khuyến nghị các đơn vị thi công sử dụng thành phần vật liệu định mức cho 1 m3 vữa mác 5 MPa gồm 161 kg xi măng PCB40, 1286,9 kg đất đồi Feralit khô, 296,1 kg vôi bột và 200 lít nước để đạt cường độ thực tế 5,85 MPa. Sở Xây dựng Gia Lai có thể tham khảo ban hành hướng dẫn kỹ thuật trong vòng 6 tháng tới.
  3. Triển khai xây dựng 5 đến 10 mô hình công trình thí điểm: Ủy ban nhân dân huyện Đak Đoa cùng các chủ đầu tư địa phương cần áp dụng đồng bộ gạch không nung và vữa đất Feralit gia cố vôi cho các công trình công cộng trong giai đoạn 2020 - 2022, hướng tới mục tiêu giảm 100% hiện tượng nứt tường xây.
  4. Xây dựng chính sách ưu đãi và chuyển giao công nghệ: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Gia Lai chủ trì tổ chức tập huấn kỹ thuật phối trộn vữa cho ít nhất 80% doanh nghiệp, hợp tác xã xây dựng trên địa bàn trước năm 2025 nhằm hỗ trợ lộ trình xóa bỏ gạch nung theo Quyết định số 736/QĐ-UBND.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu khoa học và cẩm nang kỹ thuật hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:

  • Kỹ sư xây dựng và chỉ huy trưởng công trường: Nắm rõ định lượng thành phần cấp phối cho 1 m3 vữa (mác 5,0 MPa; 7,5 MPa; 10,0 MPa) và quy trình kiểm soát độ lưu động từ 101 mm đến 120 mm để phòng ngừa hoàn toàn hiện tượng nứt mạch vữa gạch không nung.
  • Các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng tại Tây Nguyên: Tận dụng mỏ đất đồi Feralit tại chỗ có khối lượng thể tích 1,352 g/cm3 để sản xuất vữa khô đóng bao hoặc vữa trộn sẵn, thay thế 100% cát tự nhiên và tiết kiệm 20% đến 30% chi phí nguyên liệu.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Xây dựng, Sở KH&CN các tỉnh Tây Nguyên): Sử dụng kết quả thực nghiệm làm cơ sở khoa học để xây dựng bộ định mức dự toán xây dựng địa phương, phục vụ mục tiêu phát triển vật liệu không nung theo Thông tư số 13/2017/TT-BXD.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Kỹ thuật Xây dựng: Khai thác nguồn tài liệu thực nghiệm chuẩn mực về phương pháp gia cố đất bằng vôi canxi và quy trình thí nghiệm theo các tiêu chuẩn TCVN 7572:2006, TCVN 3121:2003.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao đất đồi Feralit có thể thay thế hoàn toàn cát vàng trong chế tạo vữa xây?
Đất đồi Feralit tại xã Hà Bầu có mô đun độ lớn Mđl = 2,306, khối lượng thể tích xốp đạt 1,352 g/cm3 và thành phần hạt mịn phong phú, đáp ứng đầy đủ yêu cầu cốt liệu theo TCVN 7570:2006. Đất đồi tạo nên bộ khung xương chịu lực vững chắc và tương thích cao với gạch không nung.

Tỷ lệ gia cố vôi bao nhiêu phần trăm là tối ưu nhất cho vữa xây mác 5 MPa?
Tỷ lệ gia cố 15% vôi kết hợp 85% đất đồi mang lại hiệu quả tốt nhất. Kết quả thực nghiệm cho thấy cấp phối này giúp vữa mác 5 MPa đạt cường độ nén 28 ngày lên tới 5,85 MPa, cao hơn 37,0% so với tỷ lệ gia cố 5% vôi và vượt mác thiết kế danh định.

Độ lưu động của vữa đất đồi Feralit gia cố vôi có đảm bảo tính công tác khi thi công không?
Có. Thí nghiệm trên bàn dằn theo TCVN 4314:2003 xác định độ lưu động của vữa tươi đạt từ 101 mm đến 120 mm trên mọi cấp phối, vượt xa yêu cầu kỹ thuật tối thiểu 75 mm, đảm bảo độ dẻo và khả năng bám dính tuyệt vời khi xây trát.

Sử dụng vữa đất Feralit gia cố vôi ngăn chặn hiện tượng nứt tường gạch không nung như thế nào?
Nhờ tính giữ nước vượt trội của vôi canxi và sự đồng nhất về bản chất vật liệu giữa vữa đất Feralit với gạch không nung đất đồi, hệ số giãn nở nhiệt và độ co ngót giữa hai vật liệu trở nên tương đồng, triệt tiêu hiện tượng co ngót cục bộ gây nứt tường.

Giải pháp chế tạo vữa từ đất đồi Feralit mang lại lợi ích kinh tế và môi trường gì?
Giải pháp thay thế 100% cát tự nhiên, góp phần bảo vệ dòng chảy và hệ sinh thái thủy sinh. Đồng thời, việc tận dụng nguồn đất đồi sẵn có tại địa phương giúp giảm từ 20% đến 30% giá thành sản xuất vữa so với việc sử dụng cát sông thương mại.

Kết luận

Nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu khoa học với 5 đóng góp cốt lõi:

  • Chế tạo thành công vữa xây không dùng cát từ 100% nguồn đất đồi Feralit xã Hà Bầu kết hợp vôi canxi và xi măng PCB40 Nghi Sơn.
  • Xác định tỷ lệ cấp phối tối ưu là 15% vôi và 85% đất đồi, giúp vữa mác 5 MPa đạt cường độ nén 28 ngày lên đến 5,85 MPa.
  • Kiểm chứng tính công tác vượt trội với độ lưu động đạt từ 101 mm đến 120 mm, đáp ứng tiêu chuẩn TCVN 4314:2003.
  • Tiết kiệm 100% cát xây dựng tự nhiên, cắt giảm chi phí sản xuất và loại trừ triệt để nguyên nhân gây nứt tường gạch không nung.
  • Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác phục vụ triển khai Quyết định số 736/QĐ-UBND tỉnh Gia Lai.

Trong giai đoạn 2020 - 2025, các doanh nghiệp và đơn vị thi công tại Tây Nguyên nên chủ động áp dụng công nghệ cấp phối vữa đất Feralit gia cố vôi vào các công trình thực tế để tối ưu hóa chi phí và thúc đẩy xu hướng xây dựng xanh bền vững.