MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Tản Lĩnh được biết đến có nông trường quốc doanh Ba Vì từ những năm 1959, trước bao cấp nó là nông trường tập trung, nhưng sau thời kỳ bao cấp (sau 1986) nó trở thành Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì; chăn nuôi bò sữa theo hộ bắt đầu từ những năm này. Tuy nhiên tại xã Tản Lĩnh có nhiều loại hình sinh kế cùng tồn tại không chỉ sinh kế bò sữa, đặc biệt trong những năm gần đây có những chuyển đổi do chủ trương của chính quyền địa phương hay do nông hộ tự quyết định hoặc có những nông hộ thay đổi sinh kế do ảnh hưởng bởi các nông hộ khác. Việc chuyên môn hóa chăn nuôi bò sữa hay đa dạng hóa sinh kế của người dân tại địa bàn nghiên cứu phụ thuộc rất nhiều yếu tố về vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn cơ sở hạ tầng và vốn xã hội; nên cần có những nghiên cứu cụ thể về sinh kế tại địa phương. Hơn nữa một câu hỏi được đặt ra là trong bối cảnh biến đổi khí hậu, sinh kế của nông hộ tại xã Tản Lĩnh nên thay đổi hay duy trì như thế nào để thích ứng biến đổi khí hậu, đem lại cuộc sống ổn định, đảm bảo sức khỏe cho người dân và góp phần giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Nghiên cứu này làm rõ các loại hình sinh kế tại địa phương và vai trò vốn con người trong sự đảm bảo sinh kế bền vững (đánh giá vai trò vốn con người trong việc duy trì và phát triển sinh kế của các nông hộ) trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Mặc dù những tác động của biến đổi khí hậu đối với sinh kế của người dân chưa thật sự rõ nét, nhưng nghiên cứu này tập trung đánh giá sự ổn định sinh kế của người dân hiện tại có khả năng thích ứng với những thiên tai bất thường, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu để có thể không chỉ duy trì sinh kế trước mắt mà còn thích ứng được những thay đổi về thời tiết hay những tác động của biến đổi khí hậu (đặc biệt trong nông nghiệp) ở khoảng thời gian dài hơn. Sự ổn định sinh kế này hướng tới bền vững phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá vai trò vốn con người. Ngoài ra sinh kế được coi là bền vững nếu nó góp phần vào giảm thiểu biến đổi khí hậu; nghiên cứu này chỉ nhận định khía cạnh giảm thiểu bằng việc đánh giá những tác động của sinh kế đến môi trường, cũng như đảm bảo sức khỏe cho người nông dân.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục tiêu nghiên cứu - Mô tả bức tranh sinh kế và tổng quan sơ lược các loại vốn tại xã Tản Lĩnh, Ba Vì - Đánh giá được vai trò vốn con người trong sinh kế bền vững tại Tản Lĩnh ứng phó biến đổi khí hậu - Nhận định những mặt tích cực và hạn chế thuộc vốn con người tại xã Tản Lĩnh, Ba Vì 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. LÝ THUYẾT SINH KẾ VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG 1. Khái niệm sinh kế Sinh kế được cấu thành bởi các yếu tố: con người, khả năng sinh kế, cách thức sinh tồn trong việc tìm kiếm lương thực, thu nhập và các loại tài sản (tài sản hữu hình và tài sản vô hình) nhằm đảm bảo sự sinh tồn hiện tại. (Robert Chambers and Gordon R.
Conway 1991) Có ba khái niệm cần được làm rõ, đó là: - Khả năng trong sinh kế là năng lực của người dân thuần túy có thể làm để đảm bảo sự sinh tồn của họ, gồm: o Nhu cầu lương thực vừa đủ o Nhu cầu mặc vừa đủ o Có khả năng tránh được bệnh tật hiểm nghèo mà nó có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống o Có khả năng không vi phạm những vấn đề liên quan đến đạo đức vì nhu cầu sinh tồn, không xúc phạm đến nhân phẩm của bản thân chỉ vì “miếng cơm manh áo” o Có khả năng tạo dựng hay duy trì những mối quan hệ xã hội khác ngoài quan hệ ruột thịt, họ hàng o Thuật ngữ này còn được hiểu sâu hơn về khả năng đối mặt và phục hồi trước những “cú sốc” đối với sinh kế của người nông dân và có thể thích ứng một cách chủ động - Tài sản hữu hình đề cập đến nguồn lương thực, các tài sản có giá trị của bản thân hay hộ gia đình và những khoản tiền tiết kiệm có thể được cất giữ hay bảo quản. Đó có thể là nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, các tư liệu sản xuất khác và cả những tư liệu được dùng để phục vụ trong sinh hoạt gia đình - Tài sản vô hình bao gồm những nhu cầu chính đáng, thực tiễn cũng như những đòi hỏi cho sự hỗ trợ thiết yếu về sự sinh tồn của người dân, đặc biệt khi gặp những thảm họa hay những tác động bất lợi đối với sinh kế và cuộc sống của họ. Nó còn là 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những cơ hội thực tế cho việc sử dụng nguồn tài nguyên, những tài sản trong gia đình, các dịch vụ xã hội cần thiết (khám chữa bệnh, học tập,…); và những cơ hội tiếp cận công nghệ thông tin (cụ thể là kỹ thật canh tác, sản xuất giống mới), tư liệu sản xuất, nguồn lương thực, ngay cả loại hình sinh kế đem lại nguồn thu nhập ổn định cho họ Ngoài khả năng sinh kế, các loại tài sản hữu hình và vô hình thì các hoạt động thực tiễn và việc làm cụ thể trong sinh kế của người dân không thể thiếu. Thuật ngữ khả năng sinh kế được điều chỉnh về mặt lý thuyết và được vận dụng phù hợp với những hoàn cảnh cụ thể khác nhau cùng với những tiêu chí để đảm bảo những phúc lợi cho người nông dân hay người nghèo tùy từng vùng hay khu vực.
Khả năng sinh kế Tài sản Hoạt hữu động hình Tài sản vô hình Hình 1.1: Các thành phần và sự tƣơng tác giữa chúng trong khái niệm sinh kế của con ngƣời 1. Khái niệm và sự cải tiến khung sinh kế bền vững 1. Tính thiết yếu phải tiếp cận sinh kế bền vững Thuật ngữ sinh kế bền vững được đề cập lần đầu tiên tại hội đồng Brundtland về Môi trường và Phát triển năm 1987 (Lasse Krantz 2001). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nếu sự phát triển chỉ chú trọng ở các khía cạnh riêng lẻ thì chúng ta sẽ không đảm bảo sự thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Nếu sự sinh tồn của người dân nghèo thành thị hay người nông dân được đảm bảo nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như môi trường đang dần cạn kiệt và bị hủy hoại thì sự đảm bảo sinh tồn ấy sẽ không thể bền vững. Do đó cách tiếp cận sinh kế 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bền vững phù hợp trong bối cảnh hiện tại, đó là giải pháp tích hợp thỏa mãn nhiều nhu cầu: - Nguồn thu nhập bền vững cho người nông dân hay người dân nghèo thành thị và những cơ hội giảm nghèo; - Sự phát triển kinh tế - xã hội (bao hàm nâng cao chất lượng và quy mô giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, các phúc lợi xã hội khác); - Môi trường và tài nguyên; - Thúc đẩy quyền và xây dựng năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự; - Xóa bỏ sự phân biệt về giới cũng như nâng cao vai trò và năng lực cho người phụ nữ, sự phát triển của trẻ em; - Cùng với các cơ chế chính sách, chiến lược từ bộ máy chính quyền phải được lồng ghép để nâng cao tính hiệu quả và bền vững; Sự tích hợp các khía cạnh này được xem xét cụ thể ở các quy mô khác nhau (United Nation Division for Sustainable Development 1992). Đây là một mục tiêu lâu dài cho sự phát triển bền vững của Chương trình Nghị sự 21 – hội nghị Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển năm 1992. Tiếp cận sinh kế bền vững ngày càng được quan tâm và ứng dụng bởi các tổ chức phi lợi nhuận hay các tổ chức nghiên cứu phát triển để đảm bảo cho người dân nghèo hay người nông dân vừa có thể đáp ứng nhu cầu sinh tồn, vừa tăng khả năng chống chịu trước những thiên tai bất thường (Ian Scoones 1998) và (M.
Reed et al. 2013), mà không làm suy kiệt đến môi trường, hướng đến sinh kế cho các thế hệ tương lai và không làm ảnh hưởng đến các loại hình sinh kế khác ở cấp độ địa phương, vùng (khu vực) và rộng hơn là quy mô toàn cầu. Đồng thời nó là một trong những giải pháp thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu. Tiếp cận sinh kế bền vững là một hướng giải quyết cho việc giảm nghèo (Lasse Krantz 2001), đặc biệt ở khu vực nông thôn với những người nông dân hay những người dân sống phụ thuộc trực tiếp vào các sản vật từ thiên nhiên (United Nations 1987).
Khái niệm sinh kế bền vững Sinh kế bền vững là sự tích hợp giữa ba khái niệm đơn lẻ – khả năng sinh kế, sự công bằng và sự bền vững (Robert Chambers and Gordon R. Conway 1991): 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Khả năng sinh kế như đã được đề cập ở khái niệm sinh kế - Sự công bằng (không có sự phân biệt đối xử) về thu nhập hay các cơ hội, khả năng trong việc tiếp cận các loại hình sinh kế khác nhau của người dân nghèo hay người nông dân thuần túy nhằm xóa bỏ sự phân biệt khoảng cách giữa giàu và nghèo hay giữa thành thị và nông thôn, không còn sự phân biệt đối xử với những đối tượng hay cộng đồng dân tộc ít người, không phân biệt đối xử với phụ nữ hay trẻ em. - Sự bền vững nhấn mạnh ở hai khía cạnh: môi trường và xã hội. Sinh kế của người dân được đảm bảo nhưng không tác động tiêu cực đến môi trường, đến nguồn tài nguyên thiên nhiên – khía cạnh về sự bền vững môi trường.
Về khía cạnh xã hội, đó là cách ứng phó của người dân trước những “cú sốc” đối với sinh kế của họ, hơn nữa họ nên chủ động tích cực trong việc duy trì hay tìm kiếm sinh kế phù hợp để đảm bảo sinh kế không chỉ ở thế hệ của họ mà còn hướng đến thế hệ sau. Sinh kế được gọi là bền vững khi nó có thể đối mặt và hồi phục từ những thảm họa hay “cú sốc”…, có thể duy trì và cải thiện những khả năng và nguồn vốn của sinh kế, đem đến cơ hội sinh kế cho thế hệ tương lai.