Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ BỆNH LÝ MŨI XOANG TRONG MỘT SỐ NGHÀNH CÔNG NGHIỆP 1. Trên thế giới Từ thế kỷ thứ XVI qua các công trình nghiên cứu, nhiều tác giả trên thế giới đều nhận thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa các triệu chứng bệnh lý đường hô hấp trên như chảy mũi, ngạt tắc mũi, ngửi kém, mất ngửi với môi trường lao động bị ô nhiễm bụi và hơi khí độc. Các tác giả đều có nhận định bụi và hơi khí độc gây nên các triệu chứng [9].
Năm 1928, Collis và Gilchrist đã phân tích về cái chết của 426 người lao động bốc rỡ than lên tàu thủy dọc các cảng Penarth, Cardiff ở miền nam xứ Wales thuộc vương quốc Anh, nhận thấy sự tổn thương của đường hô hấp khi tiếp xúc với bụi than [10]. Năm 1964, Wicken đã nhận định tình trạng bệnh VMX và viêm phế quản ở Anh là do ô nhiễm không khí nặng có nguồn gốc từ các khu công nghiệp và có liên quan đến sự tử vong của 58 nghìn nam giới và 18 nghìn nữ giới tử vong do bệnh này [11]. Năm 1967, Altschuler B và cs thực nghiệm trên người thấy nếu thở hít đường mồm thì có sự lắng đọng ở phế nang các hạt bụi có kích thước lớn 2µm, nhưng nhỏ hơn 4µm. Thể tích mỗi lần thở và tần số hô hấp có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hấp thụ bụi [12].
Năm 1993, Hội đồng nghiên cứu y học Ấn Độ và Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canada đã tiến hành nghiên cứu khu vực khai thác than ở tây Bengal Ấn Độ theo thực tế nhận thấy các triệu chứng đường hô hấp mạn 4 tính ở những người làm việc dưới hầm lò là 31,3% cao hơn hẳn những người làm việc trên bề mặt các mỏ than (17,0%) [13]. Năm 2004, Huseyin Ozdemir đánh giá niêm mạc của các xoang cạnh mũi ở công nhân than có bệnh bụi phổi. Nghiên cứu đã chỉ ra niêm mạc các xoang cạnh mũi dày hơn ở công nhân than so với nhóm đối chứng, Trên công nhân than bị mắc bệnh bụi phổi chịu ảnh hưởng nhiều nhất. Mối liên quan giữa tình trạng phơi nhiễm với bụi than và thay đổi niêm mạc các xoang cạnh mũi [14].
Chaulya thuộc viện nghiên cứu mỏ Trung ương Ấn Độ, nghiên cứu Sự biến đổi về thời gian và không gian nồng độ các hạt bụi lơ lửng trong không khí, hạt bụi hít thở được, sulfur dioxide (SO2) và nitrogen oxide (NOx) trong khu vực khai thác than gần mặt đất. Đã chỉ ra những khu vực vành đai thì nồng độ giảm nhẹ, những nơi tập trung ô nhiễm không khí thì nồng độ các chất trên đều vượt quá giới hạn tiêu chuẩn [15]. Năm 2005, Martin Jennings và Martyn Flahive, trong tạp chí liên kết khoa học sức khỏe với phơi nhiễm bụi than khi hít thở vào. Chỉ ra bụi than gây tác hại với đường hô hấp trên đường đi của bụi, trong đó có tổn thương mũi xoang và các vị trí bụi lắng đọng dọc trên đường hô hấp [16].
Năm 2014, Hox và cộng sự đã nghiên cứu bệnh của đường hô hấp trên do nghề nghiệp: quá trình tác động đến mũi như thế nào. Đã chỉ ra quá trình tác động về mặt TB học của các hóa chất với niêm mạc mũi xoang trong quá trình hô hấp [17]. Sundaresan và cộng sự đã nghiên cứu về những yếu tố nguy cơ môi trường và nghề nghiệp với bệnh VMXMT, đã chỉ ra những phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ đó có liên quan với tăng tỷ lệ bệnh VMXMT [18]. Năm 2016, Wen-Xiang Gao và đồng nghiệp, đã nghiên cứu những yếu tố nguy cơ trong môi trường và nghề nghiệp với bệnh VMXMT ở 5 Trung Quốc: nghiên cứu cắt ngang nhiều thời điểm.
giữ liệu đã chỉ ra phơi nhiễm với môi trường và nghề nghiệp liên quan mật thiêt với VMXMT, điều này giúp hiểu biết hơn về dịch tễ bệnh VMXMT [19]. Năm 2017, Da Silva Pinto và cộng sự nghiên cứu độc tính gen ở người trưởng thành sinh sống trong khu vực khai thác than- nghiên cứu cắt ngang, thấy một số yếu tố nguy cơ liên quan với tổn thương DNA được xác định do thời gian tiếp xúc [20]. Trong nước Năm 1998, Nguyễn Khắc Hải và cs đã điều tra khảo sát tình hình ô nhiễm môi trường lao động ở một số xí nghiệp quốc phòng điển hình có công nghệ mới, biện pháp khắc phục. Trong đó đã nghiên cứu các xí nghiệp hóa chất, vật liệu xây dựng, máy bay và xí nghiệp dệt may, cho thấy tỷ lệ bệnh TMH rất cao có nơi lên đến 65,6% [21].
Năm 2001, Nguyễn Ngọc Anh đã tiến hành điều tra đặc điểm bệnh bụi phổi –silic trong công nhân khai thác than ở Thái Nguyên cho thấy môi trường ô nhiễm bụi nghiêm trọng, nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần [22]. Năm 2001, Phạm Văn Tố đã tiến hành nghiên cứu môi trường lao động và tình trạng bệnh lý phổi phế quản của công nhân khai thác than Quảng Ninh. Cho thấy TCVSCP của môi trường lao động không đảm bảo dẫn đến các bệnh lý đường hô hấp [23]. Năm 2001, Trần Ngọc Lan trong báo cáo hội nghị Y học lao động và Vệ sinh môi trường toàn quốc về công nhân có thâm niên tiếp xúc với bụi amiăng cho thấy tỷ lệ công nhân bị viêm mũi họng chiếm 55,48% [24].
Vũ Thành Khoa năm 2001 qua nghiên cứu 1148 công nhân mỏ than Thống Nhất – Quảng Ninh cho thấy nhiệt độ không khí cao hơn bên ngoài, độ ẩm cao rõ rệt 96%, tốc độ gió dưới 1m/s, bụi 1757 ± 379 hạt/cm 3 tỷ lệ mắc bệnh TMH là 68. 6 Năm 2004 Trần Văn Tuấn và cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của công nhân công ty than Đông Bắc, trong đó cơ cấu bệnh tật cho thấy bệnh mũi xoang chiếm tỷ lệ cao nhất 45,59% [26]. Năm 2009, Lê Thanh Hải thực hiện nghiên cứu bệnh VMXMT ở công nhân luyện thép Thái Nguyên và đánh giá biện pháp can thiệp, đã nói nên đặc điểm môi trường lao động ngành thép ảnh hưởng đến MX, công dụng của dàn rửa mũi [27]. Năm 2015, Nguyễn Quang Hùng, Lê Minh Kỳ nghiên cứu hiệu quả rửa mũi trên bệnh nhân VMXMT tại nhà máy xi măng Hải Phòng xem mức độ cải thiện triệu chứng của bệnh nhân [29].
Lê Văn Dương năm 2017, nghiên cứu thực trạng bệnh lý mũi xoang của công nhân mỏ tại công ty than Quang Hanh và một số yếu tố liên quan đã chỉ ra tỷ lệ VMX là 56,2% trong đó VMXC tính là 0,7%, VMXMT là 51,1%, VMXMT có polyp là 4,4% [30]. GIẢI PHẪU – SINH LÝ MŨI XOANG 1. Giải phẫu mũi xoang Mũi được cấu tạo bởi các xương và các sụn, được niêm mạc lót ở mặt trong, hố mũi thông với các xoang cạnh mũi, còn bên ngoài được phủ bởi da có các cơ bám da, mũi gồm ba phần: - Mũi ngoài còn gọi là tháp mũi, nằm chính giữa mặt - Mũi trong thường gọi là hố mũi (hốc mũi) - Các hốc phụ của mũi, thường gọi là xoang cạnh mũi 7 1. Cấu tạo hốc mũi Hốc mũi là một khoang không đều nằm giữa nền sọ và trần của miệng, trong ổ mắt và trước họng, được phân chia bởi một vách xương-sụn nằm ở đường giữa; hố mũi thông ra ngoài qua lỗ mũi trước và mở ra sau vào họng mũi qua lỗ mũi sau.
Hốc mũi bao gồm hai thành, một trần và một sàn [31], [32],[33]. Vòm mũi Là một rãnh hẹp cong xuống dưới, đi từ trước ra sau có ba đoạn: - Đoạn trán mũi: được cấu tạo bởi xương mũi và gai mũi của xương trán. - Đoạn sàng: ngay phía dưới mảnh ngang xương sàng, là phần hẹp nhất của vòm mũi, rộng khoảng 2mm. - Đoạn bướm: được tạo nên bởi mặt trước và dưới thân xương bướm, có lỗ thông xoang bướm đổ vào hốc mũi.
Đoạn bướm là phần rộng nhất của vòm mũi khoảng 6-7mm. Sàn mũi Là thành dưới hốc mũi, cấu tạo bởi mỏm khẩu cái xương hàm trên ở 2/3 trước và mảnh ngang xương khẩu cái ở 1/3 sau [34],[35]. Thành trong - Thành trong của hốc mũi là vách mũi (vách ngăn) chia đôi hốc mũi. Vách này nằm giữa trần và sàn mũi, là một vách xương mỏng với một khuyết rộng ở phía trước được làm đầy bằng sụn vách mũi.
Bao gồm sụn vách mũi, mảnh đứng xương sàng, xương lá mía và mảnh thẳng đứng xương khẩu cái. - Đôi khi vách mũi có thể vẹo lệch hoặc nhô ra tạo thành mào hoặc gai gây ảnh hưởng đến khí động học trong hốc mũi và sự dẫn lưu dịch trên vách ngăn.1: Khung xương sụn vách ngăn mũi [32] 1 Mảnh đứng xương sàng 4 Xương lá mía 2 Sụn vách ngăn 5 Mảnh thẳng đứng xương khẩu cái 3 Mỏm khẩu cái xương hàm trên 6 Mảnh ngang xương khẩu cái Thành ngoài - Được tạo nên bởi khối bên xương sàng, xương hàm trên, xương lệ, xương khẩu cái và cánh chân bướm. - Thành ngoài của hốc mũi có ba cuốn mũi trên, giữa và dưới kích thước không đều nhau và là thành rất quan trọng có cấu trúc phức tạp.2: Thành ngoài hốc mũi [36] 1 Xoang trán 4 Cuốn mũi dưới 2 Cuốn mũi trên 5 Xoang bướm 3 Cuốn mũi giữa 6 Lỗ vòi nhĩ - Các xương cuốn: + Xương cuốn mũi trên: là một phần của xương sàng. Mảnh nền của cuốn mũi trên ngăn cách xoang sàng sau và xoang bướm [32].
9 + Xương cuốn mũi giữa: Phía trước cuốn giữa gắn với mái trán sàng ở cao qua rễ đứng, ngay giữa chỗ tiếp nối giữa mảnh sàng và phần ngang xương trán. Phía sau tiếp liền với khối mê đạo sàng và hố bướm - khẩu cái. Mảnh nền của cuốn giữa bám vào khối bên xương sàng và là vách phân cách hai hệ thống xoang sàng trước và xoang sàng sau. + Xương cuốn mũi dưới là một xương độc lập, dài khoảng 4 cm, nằm dọc theo chiều trước - sau.
- Các ngách mũi: + Ngách mũi trên: là khe hẹp giữa xoang sàng sau và cuốn mũi trên. Các lỗ thông của sàng sau và xoang bướm đổ vào khe trên. + Ngách mũi giữa: giới hạn bởi cuốn giữa ở trong và khối bên xương sàng ở ngoài, có 3 thành phần lồi lên lần lượt từ trước ra sau là đê mũi (Agger nasi), mỏm móc (processus uncinatus) và bóng sàng (Bulla Ethmoidalis). Trong ngách này có vùng giải phẫu rất quan trọng là phức hợp lỗ ngách, hay đơn vị lỗ ngách (osteomeatal unit) [32],[37], được dùng để chỉ lỗ thông xoang hàm, phễu sàng, khe bán nguyệt và ngách trán.
Xoang hàm, xoang trán và các tế bào xoang sàng trước thông vào ngách mũi giữa.