Luận văn: Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Bình

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình. Nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và đề xuất chính sách hỗ trợ hiệu quả.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lý Luận Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình 2024

Thái Bình, một tỉnh có mật độ dân số cao và chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, luôn đối mặt với bài toán lớn về việc làm cho lao động nông thôn. Theo tài liệu nghiên cứu của Phí Thị Nguyệt (2008), khu vực nông thôn chiếm tới 92,6% dân số toàn tỉnh, và lực lượng lao động xã hội chiếm tỷ lệ cao, bình quân 74,78% so với dân số. Mỗi năm, có khoảng 32.000 người bước vào độ tuổi lao động, tạo ra một sức ép khổng lồ lên thị trường lao động vốn chủ yếu là nông nghiệp. Nguồn lao động dồi dào vừa là tiềm năng phát triển kinh tế, vừa là thách thức lớn cần có lời giải đáp. Việc giải quyết việc làm không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là yếu tố then chốt để đảm bảo an sinh xã hội, ổn định chính trị và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Các chính sách và chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đã được tỉnh triển khai, nhưng hiệu quả vẫn cần được đánh giá và cải thiện liên tục. Thực tế cho thấy, dù đã có những chuyển biến tích cực, tình trạng thiếu việc làm và thu nhập không ổn định vẫn là vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp mang tính hệ thống, phù hợp với đặc thù địa phương là nhiệm vụ cấp bách. Bài viết này sẽ phân tích sâu thực trạng và đưa ra những định hướng chiến lược nhằm tối ưu hóa nguồn nhân lực, tạo ra nhiều cơ hội việc làm chất lượng hơn cho người lao động tại các vùng nông thôn của tỉnh.

1.1. Phân tích đặc điểm dân số và nguồn nhân lực dồi dào

Theo số liệu từ Niên giám thống kê, dân số Thái Bình năm 2006 là 1.860 ngàn người, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm gần 60%. Đặc điểm nổi bật là nguồn cung lao động tăng nhanh, trong khi cầu lao động, đặc biệt là trong lĩnh vực phi nông nghiệp, tăng chậm hơn. Điều này dẫn đến tình trạng dư thừa lao động, nhất là vào thời điểm nông nhàn. Lao động nông thôn Thái Bình phần lớn gắn liền với cây lúa, mang tính thời vụ cao. Khi mùa màng bận rộn, công việc căng thẳng. Nhưng khi hết vụ, một lượng lớn lao động trở nên nhàn rỗi, gây lãng phí nguồn lực xã hội. Vấn đề này đòi hỏi một chiến lược chuyển dịch cơ cấu lao động mạnh mẽ hơn, không chỉ trong nội bộ ngành nông nghiệp mà còn sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ.

1.2. Vai trò chiến lược của giải quyết việc làm nông thôn

Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình là nhiệm vụ có tính chiến lược. Nó không chỉ giúp nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống người dân mà còn là động lực để tái cơ cấu nền kinh tế. Khi người lao động có việc làm ổn định, họ sẽ có điều kiện để đầu tư vào giáo dục cho con cái, chăm sóc sức khỏe tốt hơn, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lâu dài. Hơn nữa, việc làm tại chỗ giúp giảm áp lực di dân tự phát ra các thành phố lớn, hạn chế các vấn đề xã hội phức tạp. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, giải quyết việc làm là “giải pháp có tính chiến lược”, là nền tảng cho sự phát triển bền vững và công bằng xã hội.

II. Thách thức lớn về việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình

Thực trạng việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình phải đối mặt với nhiều thách thức cố hữu. Vấn đề lớn nhất là tình trạng thiếu việc làm và chất lượng việc làm chưa cao. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị được kiểm soát, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn vẫn còn thấp. Năm 2006, tỷ lệ này là 84,3%, cho thấy vẫn còn một quỹ thời gian lao động đáng kể chưa được khai thác hiệu quả. Tình trạng này chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm tới 85,72% tổng số lao động thiếu việc làm ở nông thôn vào năm 2005. Bên cạnh đó, chất lượng lao động là một rào cản lớn. Phần lớn lao động nông thôn chưa qua đào tạo chuyên môn, kỹ năng còn hạn chế. Điều này khiến họ khó tiếp cận với các công việc đòi hỏi kỹ thuật cao trong các khu công nghiệp hoặc các ngành dịch vụ hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi một đội ngũ lao động có trình độ, nhưng thực tế đào tạo lại chưa đáp ứng kịp. Đây là một vòng luẩn quẩn: chất lượng lao động thấp khó tìm việc làm tốt, và thu nhập thấp lại hạn chế khả năng đầu tư vào học tập, đào tạo lại. Để phá vỡ vòng luẩn quẩn này, cần có những chính sách đột phá và đồng bộ.

2.1. Phân tích thực trạng thiếu việc làm và lao động thời vụ

Theo điều tra của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình năm 2006, có tới 169.627 lao động ở khu vực nông thôn bị thiếu việc làm. Nguyên nhân chính là do đặc thù sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ. Diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp, chỉ khoảng 550m²/người, không đủ để đảm bảo việc làm và thu nhập quanh năm. Lao động dư thừa trong những lúc nông nhàn là một thực tế phổ biến. Điều này không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn dẫn đến thu nhập bấp bênh, đời sống khó khăn. Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn Thái Bình tuy có cải thiện qua các năm nhưng vẫn thấp hơn so với một số tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng, cho thấy tiềm năng lao động chưa được khai thác hết.

2.2. Hạn chế về chất lượng lao động và trình độ chuyên môn

Chất lượng nguồn nhân lực là điểm yếu lớn nhất. Báo cáo cho thấy, năm 2005, tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo của tỉnh là 73,18%. Số lao động có bằng cấp từ công nhân kỹ thuật trở lên chỉ chiếm chưa đầy 9%. Mặc dù trình độ học vấn phổ thông của lao động Thái Bình cao hơn một số địa phương khác, nhưng trình độ chuyên môn kỹ thuật lại là một khoảng cách lớn. Thiếu kỹ năng và tay nghề khiến người lao động khó có thể chuyển dịch cơ cấu lao động sang các ngành công nghiệp, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đây là thách thức trực tiếp đối với mục tiêu nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh.

III. Phương pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo việc làm bền vững

Để giải quyết căn cơ bài toán việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình, không có con đường nào khác ngoài việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là giải pháp nền tảng, tạo ra những “cú hích” về cầu lao động, đặc biệt là lao động phi nông nghiệp. Tỉnh đã xác định hai hướng đi chiến lược. Thứ nhất, phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung, quy mô lớn. Việc hình thành các vùng chuyên canh, các mô hình trang trại, gia trại không chỉ tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích mà còn tạo ra nhiều việc làm trong các khâu chế biến, bảo quản và dịch vụ nông nghiệp. Thứ hai, phát triển mạnh mẽ công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng. Việc quy hoạch và xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã thu hút hàng loạt dự án đầu tư, tạo ra hàng chục nghìn việc làm mới. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp ưu tiên tuyển dụng lao động địa phương, đặc biệt là con em các gia đình có đất bị thu hồi. Bên cạnh đó, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng là một hướng đi quan trọng, giúp tận dụng lao động tại chỗ, đặc biệt là lao động nữ và người lớn tuổi, vào những lúc nông nhàn, góp phần tạo thêm thu nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.

3.1. Hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và kinh tế trang trại

Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa là một trọng tâm. Thái Bình đã triển khai các mô hình "cánh đồng 50 triệu/ha/năm", chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Giai đoạn 2001-2005, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đã giải quyết việc làm cho 32.575 lao động. Các mô hình kinh tế trang trại, chăn nuôi công nghiệp, bán công nghiệp và nuôi trồng thủy sản (đặc biệt là nuôi Ngao) đã mang lại hiệu quả kinh tế cao và tạo việc làm ổn định. Hướng đi này không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún của người nông dân.

3.2. Mở rộng khu công nghiệp và khôi phục làng nghề truyền thống

Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là động lực chính cho chuyển dịch cơ cấu lao động. Tỉnh đã xây dựng 5 khu công nghiệp và 8 cụm công nghiệp, thu hút 37.000 lao động. Giai đoạn 2001-2005, lĩnh vực này tạo thêm 35.757 việc làm. Song song đó, các làng nghề truyền thống như dệt may, mây tre đan, chế biến nông sản... cũng được khuyến khích phát triển, giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 15 vạn lao động. Sự kết hợp giữa công nghiệp hiện đại và tiểu thủ công nghiệp truyền thống tạo ra một cơ cấu việc làm đa dạng, phù hợp với nhiều trình độ lao động khác nhau.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng lao động qua chương trình đào tạo

Một giải pháp không thể thiếu để cải thiện việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình là đầu tư vào con người. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo nghề là chìa khóa để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong bối cảnh mới. Nhận thức rõ điều này, tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều chính sách quan trọng. Nghị quyết số 13-NQ/TU về phát triển đào tạo, dạy nghề giai đoạn 2004-2010 đã đặt nền móng cho việc quy hoạch lại hệ thống cơ sở dạy nghề. Tỉnh đã thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh phí cho người lao động học nghề để làm việc tại các khu công nghiệp, với mức hỗ trợ từ 350.000 đến 500.000 đồng/người tùy ngành nghề. Các trung tâm giới thiệu việc làm và đào tạo nghề được củng cố, đóng vai trò cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp. Hoạt động đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng chuyên môn mà còn bao gồm giáo dục định hướng, tác phong công nghiệp và ngoại ngữ cho lao động đi xuất khẩu. Mục tiêu là biến bất lợi về trình độ thành lợi thế cạnh tranh, cung cấp cho thị trường một lực lượng lao động có kỷ luật, có tay nghề và khả năng thích ứng cao.

4.1. Vai trò của hệ thống giáo dục và trung tâm dạy nghề

Hệ thống giáo dục và đào tạo nghề có vai trò quyết định đến chất lượng lao động. Tỉnh đã quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề, từ các trường trung cấp, cao đẳng đến các trung tâm học tập cộng đồng tại xã. Các chương trình dạy nghề ngắn hạn cho nông dân được triển khai, tập trung vào những ngành nghề mà địa phương có nhu cầu và thế mạnh. Các trung tâm giới thiệu việc làm không chỉ tư vấn, giới thiệu mà còn chủ động liên kết với doanh nghiệp để tổ chức các lớp đào tạo theo đơn đặt hàng, đảm bảo đầu ra cho người học.

4.2. Chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động địa phương

Để khuyến khích người dân tham gia học nghề, tỉnh đã có nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể. Quyết định số 1193/QĐ-UB hỗ trợ kinh phí học nghề cho lao động vào làm tại các khu công nghiệp. Quyết định số 52/2002/QĐ-UB quy định các dự án đầu tư được hỗ trợ kinh phí đào tạo lao động có hộ khẩu tại Thái Bình. Những chính sách này không chỉ giúp giảm gánh nặng chi phí cho người lao động mà còn thể hiện cam kết của chính quyền trong việc nâng cao chất lượng lao động, chuẩn bị nguồn nhân lực cho các dự án phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

V. Kết quả thực tiễn từ các chương trình giải quyết việc làm

Các nỗ lực đồng bộ của tỉnh đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Thái Bình. Giai đoạn 2001-2005, toàn tỉnh đã giải quyết việc làm mới cho 116.252 lao động. Một trong những công cụ hiệu quả là chương trình cho vay vốn từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm. Nguồn vốn này đã tiếp sức cho hàng nghìn dự án nhỏ và vừa, các hộ gia đình phát triển sản xuất kinh doanh, từ đó tự tạo việc làm cho mình và cho người khác. Bên cạnh đó, xuất khẩu lao động đã trở thành một điểm sáng, một kênh giải quyết việc làm hiệu quả và mang lại nguồn ngoại tệ lớn. Tỉnh đã xây dựng đề án cụ thể, chỉ đạo sâu sát từ cấp tỉnh đến xã, phường, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân đăng ký đi làm việc ở nước ngoài. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, các đoàn thể và doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã giúp hàng nghìn lao động nông thôn có cơ hội việc làm với thu nhập cao tại các thị trường như Malaysia, Đài Loan. Những kết quả này không chỉ thể hiện trên con số thống kê mà còn góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế-xã hội của nhiều vùng quê, giảm nghèo bền vững và nâng cao vị thế của người lao động.

5.1. Hiệu quả từ chương trình cho vay vốn hỗ trợ việc làm

Chương trình cho vay vốn hỗ trợ việc làm (chương trình 120) đã phát huy tác dụng tích cực. Kinh nghiệm từ các địa phương như Hải Dương cho thấy, với mỗi 5 triệu đồng vốn nhà nước cho vay có thể giúp 1 lao động có việc làm. Tại Thái Bình, chương trình này cùng với vai trò của Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tạo ra một nguồn lực tài chính quan trọng, giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất mở rộng quy mô, thu hút thêm lao động, góp phần đáng kể vào việc giải quyết tình trạng thiếu việc làm tại địa phương.

5.2. Thành công trong định hướng và chính sách xuất khẩu lao động

Xuất khẩu lao động là một hướng đi chiến lược. Giai đoạn 2001-2005, toàn tỉnh đã có 11.603 người đi làm việc ở nước ngoài, chiếm 10% tổng số lao động được giải quyết việc làm. Chỉ thị số 12/CT-TU và Đề án số 10/ĐA-UB đã tạo ra hành lang pháp lý và cơ chế phối hợp đồng bộ, hiệu quả. Việc thực hiện phương châm "5 tại chỗ" (tư vấn, tuyển chọn, đào tạo, khám sức khỏe, làm thủ tục) đã giảm chi phí và tạo thuận lợi tối đa cho người lao động. Đây là kênh quan trọng không chỉ giải quyết việc làm trước mắt mà còn giúp lao động tích lũy vốn, kinh nghiệm và kỹ năng sau khi về nước.

26/09/2025
Luận văn thạc sĩ giải quyết việc làm cho lao động nông thôn ở tỉnh thái bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN 1.1 Lao động nông thôn và những nhân tố ảnh hưởng tới giải quyết việc làm của lao động nông thôn 1.1 Một số khái niệm cơ bản Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Đó là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số. Điều đó bắt nguồn từ vai trò của con người trong sự phát triển: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong các yếu tố của sản xuất, đây là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất. Nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không làm việc.

Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, khái niệm này còn được gọi là “dân cư hoạt động” có nghĩa là tất cả những người có khả năng làm việc trong dân cư theo độ tuổi quy định. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên cả hai mặt: về số lượng, là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về chất lượng nguồn nhân lực, là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam, chất lượng nguồn nhân lực được xem là chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách lao động.

Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực thường được xem xét trên các mặt: thể lực (tình trạng sức khoẻ, tầm vóc…) và trí lực (trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn – nghiệp vụ, năng lực phẩm chất…). Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động có sự khác nhau ở các nước, thậm chí khác nhau ở mỗi giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế- xã hội.

Đa số các nước quy định tuổi tối thiểu của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn tối đa là có sự khác nhau (60 tuổi hoặc 64 tuổi. Ở Ôxtraylia không quy định tuổi về hưu và cũng không có giới hạn tuổi tối đa. Ở Việt Nam theo quy định của Bộ Luật Lao động (2002) độ tuổi này được quy định là 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ. Nguồn lao động: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động đang tham gia làm việc và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Nguồn lao động cũng được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng như nguồn nhân lực. Tuy nhiên, giữa nguồn nhân lực và nguồn lao động có sự khác nhau. Sự khác nhau này là do trong thực tế có một bộ phận dân số tuy trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động nhưng vì nhiều lý do khác nhau họ chưa tham gia lao động. Đây là bộ phận ngoài lực lượng lao động.

Lao động: Hiện nay có những quan niệm khác nhau về “lao động”, tuy nhiên các quan niệm đều tập trung ở hai khía cạnh: thứ nhất, coi lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức, là phương thức tồn tại của con người. Thứ hai, coi lao động chính là con người với sức khoẻ và trí tuệ nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất và tinh thần để thoả mãn các nhu cầu của đời sống con người. Lao động không những tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn cải tạo bản thân con người, phát triển con người cả về mặt thể lực và trí lực. Trên cơ sở đó, tác giả luận văn đồng tình với khái niệm “lao động” đó 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là hoạt động có mục đích có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người [13, tr.

Lao động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngoài các địa điểm được quy định là thành thị được coi là lao động nông thôn. Việc làm: Khái niệm việc làm không phải là vấn đề mới, nhiều nhà kinh tế học đã nêu lên quan điểm của họ về khái niệm việc làm, tuy nhiên hiểu thế nào là việc làm điều này vẫn đang có sự khác nhau. Theo các nhà kinh tế học lao động thì việc làm được hiểu là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người. Việc làm đã được tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) quan tâm ngay từ khi nó được thành lập vào năm 1919.

Hội nghị lần đầu tiên của tổ chức này đã thông qua công ước về thất nghiệp yêu cầu các quốc gia thành viên phải báo cáo những biện pháp thi hành chế độ chống thất nghiệp. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Theo Bộ luật Lao động ở nước ta, khái niệm việc làm được xác định là: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”[1, tr. Từ quan niệm trên cho thấy, khái niệm việc làm phải được thoả mãn ở các điều kiện sau: Thứ nhất: Là hoạt động lao động của con người.

Thứ hai: Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. Thứ ba: Hoạt động lao động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Như vậy, nếu một hoạt động mà chỉ tạo ra thu nhập nhưng vi phạm quy định của pháp luật thì không thể coi đó là việc làm. Mặt khác, có những hoạt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động lao động hợp pháp, có ích nhưng không tạo ra thu nhập thì cũng không được thừa nhận là việc làm.

Tuy nhiên, trong thực tế có những hoạt động có ích cho gia đình, cho xã hội, không vi phạm pháp luật, nhưng không tạo ra thu nhập trực tiếp cho người tham gia lao động chẳng hạn như công việc nội trợ hàng ngày của người phụ nữ cho chính gia đình mình lại không được coi là việc làm. Chính nhờ những người phụ nữ làm công việc nội trợ đã góp phần làm giảm một khoản chi tiêu cho gia đình; họ tạo điều kiện cho chồng con yên tâm làm việc, tăng thu nhập cho cả gia đình. Bởi vậy, thực chất lao động của người phụ nữ làm công việc nội trợ ở đây cũng đã góp phần làm tăng thu nhập của cả gia đình. Như vậy, quan điểm về việc làm cần được hiểu một cách đầy đủ hơn là những hoạt động có ích, không vi phạm pháp luật, có thu nhập hoặc tạo điều kiện làm tăng nguồn thu cho người khác và cho xã hội.

Trong kinh tế thị trường, số lượng việc làm phản ánh cung cầu về lao động. Ngày nay, năng suất lao động tăng đã làm ảnh hưởng rất lớn tới cầu lao động và cơ cấu lao động. Nếu người lao động không tự nâng cao trình độ, kỹ năng cho phù hợp với tính chất và công việc của mình thì tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ khó tránh khỏi. Hậu quả của thất nghiệp và thiếu việc làm cho chính bản thân người lao động và xã hội là rất lớn.

Đối với bản thân người lao động, họ sẽ mất tiền lương, tiền công, ảnh hưởng đến mức sống, họ sẽ mất đi cơ hội trau dồi tri thức và hao mòn kiến thức đối với những lao động được đào tạo. Đối với xã hội, thất nghiệp và thiếu việc làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, chính trị, an ninh của quốc gia. Giải quyết việc làm: chính là tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình, cộng đồng và xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình tạo việc làm là: (1) quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất.

Mà số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó; (2) quá trình tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng sức lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, quy định về độ tuổi lao động và tốc độ di chuyển của lao động. Chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể thao và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; (3) quá trình tạo ra những điều kiện kinh tế – xã hội khác như các chính sách của nhà nước, các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao, các giải pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm… Giải quyết việc làm phải được xem xét từ ba phía: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Vì vậy, giải quyết việc làm theo nghĩa rộng là tạo ra môi trường và các điều kiện cần thiết để người lao động tự do làm ăn, tạo ra thu nhập, tự tạo việc làm cho bản thân mình và cho người khác theo pháp luật, phát huy đến mức cao nhất nhân tố con người với khả năng sáng tạo vô hạn của con người.

Giải quyết việc làm theo nghĩa hẹp là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thiếu việc làm, thất nghiệp nhằm tạo ra chỗ làm việc cho người lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm ở mức thấp. Với lao động nông thôn, phần lớn họ làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, bởi vậy đây là loại hình việc làm gắn với cây trồng, vật nuôi, gắn với những công việc theo thời vụ. Do vậy, vào thời kỳ mùa màng bận rộn thì khối lượng công việc nhiều và tăng đột biến. Tuy nhiên, lúc hết vụ thì khối lượng công việc giảm đột ngột và có lúc người nông dân không có việc làm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ