Nghiên cứu vi khuẩn chuyển hóa nitơ trong nuôi tôm hùm Panulirus sp.

Nghiên cứu vi khuẩn chuyển hóa nitơ ở đáy nuôi tôm hùm Panulirus sp. Phân tích thành phần, hoạt tính vi sinh vật, ứng dụng tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản bền vững.

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

236
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh sách chữ viết tắt

Danh sách các bảng

Danh sách các hình

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan tình hình nuôi tôm hùm lồng bè

1.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước vùng nuôi tôm hùm Vịnh Xuân Đài

1.3. Vi sinh vật trong môi trường nước mặn

1.4. Sơ đồ chu trình chuyển hóa nitơ trong hệ sinh thái biển

1.5. Các quá trình chuyển hoá nitơ và vai trò các nhóm vi khuẩn tham gia chuyển hóa

1.6. Đặc điểm của các nhóm vi khuẩn tham gia quá trình chuyển hóa Nitơ

1.7. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn Bacillus

1.8. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn Rhodococcus

1.9. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn Pseudomonas

1.10. Đặc điểm sinh học của vi khuẩn Stenotrophomonas

1.11. Đặc điểm sinh học của các nhóm vi khuẩn chuyển hóa nitơ khác

1.12. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhân sinh khối vi khuẩn

1.12.1. Nguồn khoáng và vitamin

1.12.2. Thời gian nuôi cấy

1.12.3. Động học của quá trình vi sinh vật

1.13. Sơ lược về ma trận Plackett - Burman và Box - Behnken

1.13.1. Giới thiệu phương pháp bề mặt đáp ứng (RSM)

1.13.2. Ma trận Plackett - Burman

1.13.3. Ma trận Box-Behnken (BBD)

1.14. Các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường nước nuôi tôm thẻ chân trắng

1.14.1. Ammonia tổng cộng (TAN - Total Ammonia Nitrogen)

1.14.2. Nitrite và Nitrate

1.15. Tình hình nghiên cứu ứng dụng của vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản

1.15.1. Tình hình ứng dụng vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản trong nước

1.15.2. Tình hình ứng dụng vi sinh vật trong nuôi trồng thủy sản trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2. Phương pháp thu mẫu bùn đáy

2.2.1. Vị trí thu mẫu

2.3. Phương pháp phân tích hóa lý của mẫu bùn:

2.4. Nội dung 1: Phân lập và định danh vi khuẩn chuyển hóa Nitơ từ nền đáy vùng nuôi tôm hùm

2.4.1. Phân lập và định danh vi khuẩn Bacillus sp

2.4.1.1. Phân lập vi khuẩn Bacillus sp
2.4.1.2. Phương pháp định danh sinh hóa vi khuẩn Bacillus sp
2.4.1.3. Phương pháp định danh sinh học phân tử vi khuẩn Bacillus sp

2.4.2. Phân lập và định danh vi khuẩn chuyển hóa ammonia (AOB)

2.4.2.1. Môi trường phân lập vi khuẩn chuyển hóa ammonia (phụ lục 1. Các bước phân lập nhóm vi khuẩn chuyển hóa ammonia
2.4.2.2. Phương pháp định danh sinh hóa vi khuẩn AOB
2.4.2.3. Phương pháp định danh sinh học phân tử vi khuẩn AOB

2.4.3. Phương pháp phân lập vi khuẩn chuyển hóa nitrite (NOB)

2.4.3.1. Môi trường phân lập vi khuẩn chuyển hóa nitrite
2.4.3.2. Các bước phân lập vi khuẩn chuyển hóa nitrite (NOB)
2.4.3.3. Phương pháp định danh sinh hóa vi khuẩn NOB
2.4.3.4. Phương pháp định danh sinh học phân tử vi khuẩn NOB

2.4.4. Khảo sát quá trình chuyển hóa ammonium, nitrite, nitrate của các chủng vi khuẩn đã tuyển chọn

2.4.5. Khảo sát khả năng chịu mặn của các chủng vi khuẩn

2.5. Nội dung 2: Tạo chế phẩm vi sinh dạng lỏng và dạng bột

2.5.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng nuôi cấy và tối ưu hóa thành phần môi trường lên men tạo chế phẩm dạng lỏng của các chủng vi khuẩn

2.5.2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng sinh khối ba chủng vi khuẩn

2.5.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo chế phẩm dạng lỏng

2.5.4. Tối ưu hóa các thành phần môi trường nhân sinh khối của 3 chủng vi khuẩn bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RMS)

2.5.5. Chế tạo chế phẩm vi sinh dạng bột

2.5.5.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất của các chủng vi khuẩn trên môi trường bán rắn
2.5.5.2. Bảo quản chế phẩm vi sinh dạng bột

2.6. Nội dung 3: Đánh giá chuyển hóa nitơ của các chủng vi khuẩn trong nuôi trồng thủy sản

2.6.1. Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn trong nước ao nuôi tôm thẻ chân trắng ở qui mô phòng thí nghiệm

2.6.2. Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn trong nuôi tôm thẻ chân trắng giai đoạn ương giống ở qui mô bể xi-măng 1m3

2.6.3. Chỉ tiêu đánh giá

2.6.4. Xử lý thống kê

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nội dung 1: Phân lập và định danh vi khuẩn chuyển hóa Nitơ từ nền đáy vùng nuôi tôm hùm

3.1.1. Các chỉ tiêu môi trường trong mẫu bùn được thu ở Vùng Vịnh Xuân Đài

3.1.2. Nhóm vi khuẩn Bacillus sp

3.1.2.1. Kết quả phân lập vi khuẩn Bacillus chuyển hóa ammonia
3.1.2.2. Chọn lọc khả năng xử lý ammonia của các vi khuẩn phân lập được
3.1.2.3. Kết quả định danh sinh hóa của các chủng vi khuẩn Bacillus sp
3.1.2.4. Kết quả định danh sinh học phân tử các chủng vi khuẩn Bacillus sp
3.1.2.5. Kết quả đánh giá khả năng chuyển hóa ammonia của các chủng vi khuẩn Bacillus sp

3.1.3. Kết quả phân lập vi khuẩn chuyển hóa ammonia (AOB) từ mẫu bùn

3.1.3.1. Kết quả xác định vi khuẩn chuyển hóa ammonia có trong mẫu bùn
3.1.3.2. Kết quả đặc điểm hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập được
3.1.3.3. Kết quả xác định khả năng chuyển hóa NH3 của các chủng vi khuẩn
3.1.3.4. Kết quả định danh sinh hóa các chủng vi khuẩn
3.1.3.5. Kết quả định danh bằng giải trình tự vùng 16S – rRNA
3.1.3.6. Kết quả đánh giá khả năng chuyển hóa ammonia của các chủng vi khuẩn tuyển chọn

3.1.4. Kết quả phân lập vi khuẩn chuyển hóa nitrite từ mẫu bùn

3.1.4.1. Kết quả xác định vi khuẩn chuyển hóa nitrite có trong mẫu bùn
3.1.4.2. Kết quả đặc điểm hình thái của các chủng vi khuẩn phân lập được
3.1.4.3. Kết quả xác định khả năng chuyển hóa NO2- của các chủng vi khuẩn
3.1.4.4. Kết quả định danh sinh hóa các chủng vi khuẩn
3.1.4.5. Định danh vi khuẩn bằng phân tích trình tự gen 16S rRNA
3.1.4.6. Kết quả đánh giá khả năng chuyển hóa nitrite của các chủng vi khuẩn tuyển chọn

3.1.5. Khảo sát khả năng chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ và khả năng chịu mặn của các nhóm vi khuẩn thuộc chi Bacillus, AOB và NOB

3.1.5.1. Khảo sát khả năng chuyển hóa NO2-, NO3- và khả năng chịu mặn của các chủng vi khuẩn Bacillus, vi khuẩn AOB
3.1.5.2. Khảo sát khả năng chuyển hóa NH4- và NO3- và khả năng chịu mặn của nhóm vi khuẩn NOB

3.2. Nội dung 2: Tạo chế phẩm vi sinh dạng lỏng và bột

3.2.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng nuôi cấy và tối ưu hóa thành phần môi trường lên men tạo chế phẩm dạng lỏng của các chủng vi khuẩn

3.2.2. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng sinh khối ba chủng vi khuẩn

3.2.3. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tạo chế phẩm dạng lỏng

3.2.3.1. Khảo sát ảnh hưởng của tỷ lệ nạp giống đến quá trình nhân sinh khối vi khuẩn

3.2.4. Tối ưu hóa các thành phần môi trường nhân sinh khối của 3 chủng vi khuẩn bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RMS)

3.2.5. Tạo chế phẩm vi sinh dạng bột

3.2.5.1. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất của các chủng vi khuẩn trên môi trường bán rắn
3.2.5.2. Tạo chế phẩm vi khuẩn dạng bột

3.3. Nội dung 3: Đánh giá chuyển hóa nitơ của các chủng vi khuẩn trong nuôi trồng thủy sản

3.3.1. Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn trong nước nuôi tôm thẻ chân trắng (không có tôm) ở qui mô phòng thí nghiệm

3.3.2. Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn

3.3.3. Đánh giá mật độ vi sinh vật khi bổ sung chế phẩm vi sinh

3.3.4. Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn trong bể nuôi tôm thẻ chân trắng giai đoạn ương giống ở qui mô bể xi-măng 1m3

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Tóm tắt

I. Tổng quan về vi khuẩn chuyển hóa nitơ và tôm hùm 52

Nghề nuôi tôm hùm tại Việt Nam đã phát triển nhanh chóng trong giai đoạn 2010-2019, đặc biệt ở các tỉnh ven biển miền Trung như Phú Yên và Khánh Hòa. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng gây ra những hệ lụy về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Việc sử dụng thức ăn tươi, chủ yếu là cá tạp, với hệ số thức ăn (FCR) cao, dẫn đến lượng lớn chất thải hữu cơ đi vào môi trường nuôi. Chất thải này chứa hàm lượng cao nitơ và phốt pho, gây nên hiện tượng phú dưỡng, phát sinh tảo độc. Theo Hoàng và cộng sự (2009), FCR của tôm hùm có thể vượt quá 20, nghĩa là một lượng lớn chất hữu cơ đi vào môi trường nuôi. Lượng chất thải rắn thải ra từ hoạt động nuôi tôm hùm có thể chứa đến 45% nitơ và 22% các chất hữu cơ khác. Chất lượng nước nuôi tôm hùm đang có sự biến động theo chiều hướng xấu, với hàm lượng NH3 vượt tiêu chuẩn cho phép và NO2- có xu hướng tăng ở tầng đáy, và Nitơ tổng ở tầng đáy tương đối cao hơn các tầng còn lại (Hoàng Thị Mỹ Hương và ctv, 2018). Để giải quyết vấn đề này, cần có các giải pháp quản lý môi trường hiệu quả hơn. Một trong số đó là sử dụng vi sinh vật chuyển hóa nitơ để giảm thiểu ô nhiễm. Chính phủ đã ban hành Quyết định số 4431/QĐ-BNN-TCTS phê duyệt Đề án phát triển nuôi và xuất khẩu tôm hùm đến năm 2025 với mục tiêu phát triển nuôi và xuất khẩu tôm hùm theo hướng bền vững và hiệu quả, bảo đảm chất lượng và an toàn thực phẩm. Đề án này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát môi trường và dịch bệnh trong vùng nuôi. Do đó, việc nghiên cứu và ứng dụng vi khuẩn chuyển hóa nitơ trong nuôi tôm hùm là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân lập và tuyển chọn vi sinh vật chuyển hóa ammonia, nitrite, chịu được độ mặn của biển từ nền đáy vùng nuôi tôm hùm ở Vịnh Xuân Đài để sản xuất chế phẩm vi sinh và đánh giá hiệu quả chuyển hóa nitơ của các chủng vi sinh vật ở bể nuôi tôm thẻ chân trắng giai đoạn post 5 là một giải pháp tích cực, có nhiều triển vọng và ý nghĩa thực tiễn.

1.1. Vấn đề ô nhiễm nitơ trong ao nuôi tôm hùm hiện nay

Chất thải từ hoạt động nuôi tôm hùm, bao gồm thức ăn thừa và phân tôm, chứa lượng lớn các hợp chất nitơ. Các hợp chất này, đặc biệt là amoniac (NH3) và nitrit (NO2-), có thể gây độc cho tôm hùm và ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như năng suất nuôi. Sự tích tụ nitơ trong ao nuôi cũng dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, tạo điều kiện cho tảo độc phát triển, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái. Theo Lại Văn Hùng và Phạm Đức Hùng (2010) FCR của tôm hùm P.homarus ăn bằng cá tạp/cá giá trị thấp là 26,60 ± 5,02 và 26,00 ± 1,41. Đa số chất thải rắn từ động vật thân mềm và giáp xác, chiếm 80% thành phần cá tạp. Sản xuất một kg P. homarus tạo ra khoảng 15 kg chất thải rắn. Chất thải chứa nitơ (45%) và hữu cơ khác (22%) gây phú dưỡng và phát sinh tảo độc (Theo Tổng cục thủy sản, 2015).

1.2. Vai trò của vi khuẩn chuyển hóa nitơ trong hệ sinh thái

Vi khuẩn chuyển hóa nitơ đóng vai trò quan trọng trong chu trình nitơ, giúp chuyển đổi các hợp chất nitơ độc hại thành các dạng ít độc hại hơn hoặc loại bỏ chúng khỏi môi trường. Các quá trình chuyển hóa nitơ bao gồm amoni hóa, nitrat hóa, khử nitrat và cố định nitơ. Mỗi quá trình được thực hiện bởi các nhóm vi khuẩn khác nhau. Việc hiểu rõ vai trò của từng nhóm vi khuẩn sẽ giúp chúng ta có thể ứng dụng chúng một cách hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản. Trong đó vi khuẩn Nitrate hoá thực hiện quá trình oxy hoá NH4+ tạo thành NO2- bằng oxy không khí và tạo ra năng lượng, giai đoạn nitrate hoá NO2- tạo thành trong giai đoạn nitrite hoá sẽ tiếp tục bị oxy hoá thành NO3-, nhờ một nhóm vi khuẩn khác theo phương trình: NO2- + ½ O2 → NO3- + Q. Quá trình nitrate hoá là một khâu quan trọng trong vòng tuần hoàn nitơ trong thủy vực.

II. Cách phân lập và định danh vi khuẩn nitơ hiệu quả 58

Nghiên cứu được thực hiện tại Vịnh Xuân Đài, Phú Yên và phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM từ tháng 8/2016 đến tháng 7/2017. Mẫu bùn đáy được thu thập định kỳ hàng tháng từ 11 lồng treo và lồng chìm. Các mẫu được bảo quản lạnh và chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích. Quá trình phân lập và định danh vi khuẩn chuyển hóa nitơ bao gồm nhiều bước. Đầu tiên, mẫu bùn được xử lý nhiệt để loại bỏ các vi khuẩn tạp. Sau đó, các mẫu được cấy vào môi trường chọn lọc để phân lập các chủng vi khuẩn Bacillus sp., vi khuẩn AOB, và vi khuẩn NOB. Định danh sinh hóa được thực hiện bằng các test kit API 20E, API 20NE và bằng các phương pháp truyền thống để xác định các đặc điểm sinh lý và sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập được, như tính di động, sản sinh catalase, sự khử nitrate, thủy phân gelatin, thủy phân tinh bột, phản ứng Voges - proskauer (VP), các phản ứng lên men đường khảo sát ở các nồng độ muối khác nhau, phát triển tại các nhiệt độ khác nhau, methyl red thực hiện theo Sharmin và Rahman (2007). Bên cạnh đó, định danh phân tử được thực hiện bằng cách giải trình tự vùng 16S rRNA và so sánh với các trình tự đã biết trong cơ sở dữ liệu gen. Các chủng vi khuẩn có khả năng chuyển hóa amoniac, nitrit và nitrat cao nhất được chọn lọc để sử dụng trong các nghiên cứu tiếp theo.

2.1. Phương pháp phân lập vi khuẩn Bacillus sp. từ bùn đáy

Vi khuẩn Bacillus sp. được phân lập trên môi trường TSA có bổ sung NaCl ở các nồng độ khác nhau (1,5%, 2%, 2,5%, 3% và 3,5%). Mẫu bùn được xử lý nhiệt ở 80°C để loại bỏ các vi khuẩn không sinh bào tử. Các chủng vi khuẩn Bacillus sp. được chọn lọc dựa trên khả năng xử lý amoniac bằng cách sử dụng môi trường ammonium-calcium-carbonate agar và kiểm tra sự thay đổi màu sắc của môi trường bằng bộ test kit NH4/NH3 Sera. Đánh giá khả năng xử lý ammonia dựa vào thang màu của bộ kit Sera NH3/NH4 để tuyển chọn các chủng vi khuẩn Bacillus sp. có khả năng chuyển màu môi trường sang màu vàng hay màu xanh nhạt.

2.2. Kỹ thuật định danh sinh hóa và phân tử vi khuẩn AOB và NOB

Các chủng vi khuẩn AOB và NOB được phân lập trên môi trường chọn lọc và định danh bằng các phương pháp sinh hóa và phân tử. Định danh sinh hóa bao gồm việc xác định các đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh hóa của vi khuẩn. Định danh phân tử được thực hiện bằng cách giải trình tự vùng 16S rRNA và so sánh với các trình tự đã biết trong cơ sở dữ liệu gen. Ly trích ADN: Mẫu vi khuẩn được tăng sinh trong môi trường LB đạt mật độ 106 CFU/mL được tiến hành tách chiết ADN bằng bộ kit AccuPrep Genomic ADN extraction (theo hướng dẫn của nhà sản xuất Bioneer, Hàn Quốc) (Boon và ctv, 2002; Schuurman và ctv, 2004).

2.3. Tiêu chí chọn lọc vi khuẩn có khả năng chuyển hóa nitơ cao

Các chủng vi khuẩn có khả năng chuyển hóa amoniac, nitrit và nitrat cao nhất được chọn lọc dựa trên các tiêu chí sau: Tốc độ chuyển hóa nitơ, khả năng chịu mặn, khả năng sinh trưởng trong điều kiện ao nuôi tôm hùm và khả năng cạnh tranh với các vi khuẩn khác. Tiêu chí này giúp đảm bảo rằng các chủng vi khuẩn được chọn lọc có thể được ứng dụng hiệu quả trong thực tế. Khuếch đại vùng gen mục tiêu bằng phản ứng PCR: Đối với các chủng vi khuẩn thuộc chi Bacillus sp. được thực hiện phản ứng PCR và định danh với cặp mồi ITS chung cho vùng 16S-RNA 27F (5' AGATTTGATCCTGGCTCAG 3') và 1492R (5' GGTTACCTTGTTACGACTT 3') (Schuurman và ctv, 2004).

III. Tối ưu môi trường lỏng cho vi khuẩn nitơ tăng sinh 55

Nghiên cứu đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng sinh khối của vi khuẩn chuyển hóa nitơ, bao gồm nguồn carbon, nguồn nitơ, mật độ giống, thời gian nuôi cấy, nhiệt độ và pH. Các yếu tố này được tối ưu hóa bằng phương pháp đáp ứng bề mặt (RMS) để tạo ra môi trường lên men dạng lỏng phù hợp cho sự phát triển của các chủng vi khuẩn. Môi trường lên men dạng lỏng được sử dụng để sản xuất chế phẩm vi sinh xử lý môi trường. Mật độ giống ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của vi khuẩn. Nếu tỷ lệ nạp giống quá thấp sẽ kéo dài thời gian nuôi cấy, dễ gây tạp nhiễm, hiệu suất thu hồi sinh khối thấp. Nếu tỷ lệ nạp giống quá cao, thời gian nuôi cấy được rút ngắn nhưng lượng sinh khối không cao do vi khuẩn phát triển quá nhanh làm nguồn thức ăn sớm bị cạn kiệt, đồng thời chúng còn sinh ra một số hợp chất gây ức chế quá trình sinh trưởng.

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng sinh khối vi khuẩn Bacillus

Nguồn Cacbon tham gia trong hầu hết các cấu trúc của tế bào, từ tế bào chất đến thành tế bào, từ phân tử enzyme đến acid nucleic. Bên cạnh đó, nguồn Nitơ là yếu tố dinh dưỡng quan trọng thứ hai sau carbon, tạo ra các amino acid cần thiết cho quá trình chuyển hóa protein của tế bào vi khuẩn. Vi khuẩn cần được cung cấp các nguyên tố khoảng như P, S, Ca, K, Fe, Mn… để phát triển. Vitamin được bổ sung trong quá trình lên men thông qua các nguồn nguyên liệu giàu vitamin như mật rỉ hay bột bắp, bã đậu nành (Trần Thị Thanh, 2000; Nguyễn Lân Dũng và ctv, 2002). Tuy nhiên các nguyên tố khoáng chỉ giới hạn những nồng độ thích hợp, nếu vượt qua giới hạn đó thì sẽ giảm hiệu suất lên men.

3.2. Ứng dụng phương pháp đáp ứng bề mặt RMS để tối ưu

Phương pháp bề mặt đáp ứng bao gồm các kĩ thuật toán học và thống kê để mô hình hóa và phân tích các vấn đề như thiết kế, phát triển, tối ưu quy trình hay sản phẩm. Trong RSM, một hàm đáp ứng phụ thuộc vào nhiều biến (các yếu tố đầu vào) khác nhau có thể được biểu diễn gần đúng dưới một đa thức có dạng: y = ƒ(x)β + ε, trong đó là hàm mục tiêu, x = x1, x2,…,xk là các yếu tố đầu vào, β là các hệ số ứng với các biến, và ε là sai số (Myers và ctv, 1989).

IV. Chế tạo chế phẩm vi sinh dạng bột cho nuôi tôm hùm 56

Sau khi tối ưu hóa môi trường lên men dạng lỏng, các chủng vi khuẩn chuyển hóa nitơ được nuôi cấy trên môi trường bán rắn và sấy khô để tạo thành chế phẩm vi sinh dạng bột. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất chế phẩm dạng bột, bao gồm tỷ lệ giống, thời gian nuôi cấy, độ ẩm và điều kiện bảo quản, được khảo sát để đảm bảo chất lượng của chế phẩm. Bảo quản chế phẩm vi sinh dạng bột được bảo quản ở hai khoảng nhiệt độ: nhiệt độ lạnh 4 - 8oC và nhiệt độ phòng 28-32oC. Ở v nhiệt độ 4 - 8oC, mật số vi khuẩn được bảo quản tốt hơn, sau 360 ngày thì mật độ vi khuẩn P.rhodochrous T9 có giảm từ 109 CFU/g còn 106 CFU/g, vi khuẩn B.licheniformis B85 giảm từ 109 CFU/g còn 107 CFU/g.

4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất chế phẩm vi sinh dạng bột

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến điều kiện sản xuất của các chủng vi khuẩn trên môi trường bán rắn gồm môi trường, thời gian, độ ẩm, tỷ lệ giống và điều kiện bảo quản chế phẩm. Bảo quản chế phẩm vi sinh dạng bột . Nội dung 3: Đánh giá chuyển hóa nitơ của các chủng vi khuẩn trong nuôi trồng thủy sản.

4.2. Điều kiện bảo quản chế phẩm vi sinh để duy trì mật độ vi khuẩn

Chế phẩm vi sinh dạng bột được bảo quản ở hai khoảng nhiệt độ: nhiệt độ lạnh 4 - 8oC và nhiệt độ phòng 28-32oC. Ở v nhiệt độ 4 - 8oC, mật số vi khuẩn được bảo quản tốt hơn, sau 360 ngày thì mật độ vi khuẩn P.rhodochrous T9 có giảm từ 109 CFU/g còn 106 CFU/g, vi khuẩn B.licheniformis B85 giảm từ 109 CFU/g còn 107 CFU/g.

V. Đánh giá hiệu quả vi sinh trong ương tôm thẻ 59

Chế phẩm vi sinh dạng bột được đánh giá hiệu quả trong mô hình ương tôm thẻ chân trắng giai đoạn post 5 ở quy mô 1m3. Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm hàm lượng TAN, NO2- và NO3-, mật độ vi sinh vật và tỷ lệ sống của tôm. Kết quả cho thấy chế phẩm vi sinh có khả năng kiểm soát tốt hàm lượng TAN, NO2- và NO3- với tỷ lệ chế phẩm là 0,5% với mật độ 108 CFU/g, sử dụng định kỳ 6 ngày/1 lần. Ngoài ra, việc bổ sung chế phẩm vi sinh cũng giúp cải thiện mật độ vi sinh vật có lợi và tăng tỷ lệ sống của tôm. Chất lượng nước tại các vùng 7 nuôi tôm hùm cũng bị suy giảm nghiêm trọng do hàm lượng NH3 và H2S cao trong tầng nước sát đáy và tầng đáy, được coi là những nguyên nhân chủ yếu làm cho tôm hùm chết hàng loạt (Tổng cục thủy sản, 2015).

5.1. Mô hình đánh giá hiệu quả chế phẩm vi sinh trên tôm thẻ

Đánh giá sự chuyển hóa N của các chủng vi khuẩn trong bể nuôi tôm thẻ chân trắng giai đoạn ương giống ở qui mô bể xi-măng 1m3.116 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ . 128 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 130 xiii DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐÃ CÔNG BỐ . 151 xiv

5.2. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu môi trường và mật độ vi sinh vật

Chỉ tiêu pH theo dõi hàng ngày . Hàm lượng ammonia theo dõi hàng ngày . Hàm lượng nitrite theo dõi hàng ngày . Hàm lượng nitrate theo dõi hàng ngày . Mật độ tổng vi khuẩn hiếu khí. Mật độ vi khuẩn chuyển hóa ammonia . Mật độ vi khuẩn chuyển hóa nitrite . Hàm lượng TAN của các nghiệm thức.

VI. Kết luận và hướng phát triển vi khuẩn chuyển hóa 53

Nghiên cứu đã thành công trong việc phân lập, tuyển chọn và định danh các chủng vi khuẩn chuyển hóa nitơ từ nền đáy vùng nuôi tôm hùm. Các chủng vi khuẩn này có khả năng chuyển hóa amoniac, nitrit và nitrat, và có thể được sử dụng để sản xuất chế phẩm vi sinh xử lý môi trường. Chế phẩm vi sinh đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc kiểm soát hàm lượng nitơ và cải thiện chất lượng nước trong mô hình ương tôm thẻ chân trắng. Tuy nhiên, cần có thêm các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh trong điều kiện thực tế và để tối ưu hóa quy trình sản xuất chế phẩm. Theo Hoàng Thị Mỹ Hương và ctv (2018), chất lượng nước ở Vịnh Xuân Đài, đặc biệt là ở tầng đáy, đang diễn biến ngày càng xấu hơn. Nồng độ ammonia (NH3) hầu hết vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là ở tầng đáy. Nồng độ nitrite (NO2-) có xu hướng tăng ở tầng đáy, nồng độ nitrate (NO3-) hầu như ổn định.

6.1. Ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng vi khuẩn chuyển hóa nitơ

Ưu điểm của vi khuẩn chuyển hóa nitơ là thân thiện với môi trường, an toàn cho tôm và có khả năng kiểm soát tốt hàm lượng nitơ trong ao nuôi. Tuy nhiên, hạn chế của việc sử dụng vi khuẩn chuyển hóa nitơ là hiệu quả có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ và oxy hòa tan.

6.2. Hướng nghiên cứu và ứng dụng vi khuẩn chuyển hóa nitơ trong tương lai

Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của chế phẩm vi sinh trong điều kiện thực tế và để tối ưu hóa quy trình sản xuất chế phẩm. Ngoài ra, cần nghiên cứu về tác động của vi khuẩn chuyển hóa nitơ đến hệ sinh thái ao nuôi và đến sức khỏe của tôm.

28/09/2025
Nghiên cứu vi khuẩn chuyển hóa nitơ trong nền đáy vùng nuôi tôm hùm panulirus sp phục vụ nuôi trồng thủy sản

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan tình hình nuôi tôm hùm lồng bè Theo nguồn cung cấp của FAO (2014) lượng tôm hùm của các nước như Philippine, Indosesia, Australia liên tục tăng trưởng trong vòng 10 năm liên tục từ 2004-2014, từ vài chục tấn tăng lên gần 1000 tấn/năm. Hầu hết nghiên cứu về nuôi tôm hùm được thực hiện ở Nhật Bản, Úc, Mỹ, New Zealand, Mexico, Nam Phi, Ấn Độ và Việt Nam. Nguồn giống tôm hùm thả nuôi có thể từ khai thác tự nhiên hoặc nhân tạo.

Do giai đoạn biến thái của ấu trùng tôm hùm quá dài, nên quá trình sản xuất giống tương đối phức tạp, chi phí cao; vì vậy nguồn giống (giai đoạn ấu trùng puerulus và tôm con nhỏ) do khai thác tự nhiên vẫn chiếm ưu thế (Võ Văn Nha, 2006; Phillips và Matsuda, 2011). Nuôi tôm hùm gai đã được nhiều nước quan tâm, nhưng chỉ có vài nước nuôi thương phẩm thành công. Trong khu vực Đông Nam Á, nuôi thương phẩm tôm hùm gai chủ yếu tập trung vào 7 loài: tôm hùm bông P. ornatus, tôm hùm đá P.

homarus, tôm hùm sen P. versicolor, tôm hùm đỏ P. longipes, tôm hùm ma P.penicillatus, tôm hùm sỏi P. stimpsoni và tôm hùm tre P.

Ở Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm gai phát triển đáng kể, phần lớn dựa vào nguồn giống tự nhiên. Nghề khai thác tôm hùm có sản lượng dưới 100 tấn mỗi năm (Thuy và Ngoc, 2004), chủ yếu từ nghề lặn và cung cấp cho thị trường nội địa. Tỉnh Phú Yên có hàng loạt vũng vịnh kín, hoặc nửa kín có mũi đá, đảo che chắn các tác động sóng và nước đủ sâu nên rất phù hợp cho nuôi tôm hùm (đầm Cù Mông, Vịnh Xuân Đài, Vũng Rô) (Tống Phước Hoàng Sơn, 2015). Theo kết quả báo cáo của Tổng cục thủy sản (2015), sản lượng tôm hùm dao động từ 20 tấn (Bình Định) với 500 lồng, 450 tấn (Phú Yên) đến 650 tấn (Khánh Hòa).

Thị xã Sông Cầu có khoảng 1.000 ha diện tích mặt biển được sử dụng để nuôi tôm hùm, sản lượng tôm hùm thương phẩm vào khoảng 400-500 tấn/năm, chiếm gần 70% sản lượng của toàn tỉnh (Tổng cục thủy sản, 2015). Nghề nuôi tôm hùm ở Vịnh Xuân Đài có 3 hình thức là nuôi trong lồng treo, lồng chìm và kết hợp cả hai hình thức (Hoàng Thị Mỹ Hương 6 và ctv, 2018). Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước vùng nuôi tôm hùm Vịnh Xuân Đài Vịnh Xuân Đài thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên có diện tích mặt nước hơn 13. Đây là vùng chứa đựng hệ sinh thái đa dạng, phong phú và là vùng nước lý tưởng phát triển nghề nuôi tôm hùm bằng lồng, bè với sản lượng hàng năm vài trăm tấn.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình trạng phát triển quá nhanh diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên vịnh kết hợp với các hoạt động sản xuất và đời sống của con người đã gây sức ép lên môi trường vịnh Xuân Đài. Chất thải từ lồng, bè nuôi trồng thủy sản thải ra, đổ vào Vịnh. Lượng chất thải này tích tụ qua nhiều năm tháng sẽ ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước nơi đây. Các hoạt động khai thác và đánh bắt thủy sản trên Vịnh cũng gây ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Số tàu thuyền hiện có trên Vịnh khi hoạt động thường xuyên sẽ thải ra một lượng chất thải đáng kể như váng dầu, mỡ từ động cơ. Một số hoạt động khai thác trái phép như khai thác san hô, sử dụng phương tiện khai thác hủy diệt hàng loạt, gây nguy cơ ô nhiễm biển, ô nhiễm vùng nuôi và giảm đa dạng sinh học (Bùi Hồng Long, 2001). Việc sử dụng thức ăn tươi đã làm cho môi trường nuôi ngày càng phì dưỡng, chất lượng nước giảm đi, tạo điều kiện cho dịch bệnh bùng phát (Tuan và Mao, 2005). Kết quả lấy mẫu môi trường nước vùng nuôi tôm hùm của Trung tâm Quan trắc Môi trường và Bệnh thủy sản khu vực miền Trung của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III cho thấy trầm tích tại vùng nuôi đang bị ô nhiễm hữu cơ, sulfur, hợp chất nitơ và các chất độc hại (Fe2+, Fe3+.

Nuôi tôm hùm lồng sản sinh một lượng lớn chất thải vào trong môi trường nước như phân tôm, nguồn thức ăn dư thừa thối rửa bị phân huỷ, các chất tồn dư từ các loại vật liệu đầu vào như hoá chất, vôi và các loại khoáng chất diatomit, dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3. là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành. Đối với các lồng nuôi công nghiệp chất thải trong quá trình nuôi có thể chứa đến trên 45% nitơ và 22% là các chất hữu cơ khác. Các loại chất thải chứa nitơ và phốt pho ở hàm lượng cao gây nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước, phát sinh tảo độc trong môi trường nước nuôi trồng thủy sản (Tổng cục thủy sản, 2015).

Chất lượng nước tại các vùng 7 nuôi tôm hùm cũng bị suy giảm nghiêm trọng do hàm lượng NH3 và H2S cao trong tầng nước sát đáy và tầng đáy, được coi là những nguyên nhân chủ yếu làm cho tôm hùm chết hàng loạt (Tổng cục thủy sản, 2015). Theo Hoàng Thị Mỹ Hương và ctv (2018), chất lượng nước ở Vịnh Xuân Đài, đặc biệt là ở tầng đáy, đang diễn biến ngày càng xấu hơn. Nồng độ ammonia (NH3) hầu hết vượt tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là ở tầng đáy. Nồng độ nitrite (NO2-) có xu hướng tăng ở tầng đáy, nồng độ nitrate (NO3-) hầu như ổn định.

Giá trị Nitơ tổng ở tầng đáy tương đối cao hơn các tầng còn lại. Vi sinh vật trong môi trường nước mặn Môi trường nước biển ở đại dương chiếm 97,2% tổng lượng nước toàn cầu. Đại dương có độ sâu khá lớn, phần nước ở độ sâu 1000 m trở xuống chiếm 75% thể tích đại dương. Nơi sâu nhất của đại dương là 11000 m.

Phần nước dưới độ sâu 100 m thường có nhiệt độ ổn định là 3oC. Cứ xuống sâu 10 m thì áp suất nước biển tăng 1 atm, ở nơi sâu nhất của đại dương áp suất có thể đạt tới sấp xỉ 1000 atm. Môi trường nước biển còn được đặc trưng bởi độ mặn (3,3 - 3,7%). Sự hòa trộn và chuyển động của nước biển là do thủy triều, chủng chảy, chuyển động nổi lên theo nhiệt độ, gió.

Vi sinh vật sống trong môi trường nước biển chịu tác động của áp suất, có thể thấy được mối tương quan giữa vi sinh vật và áp suất. Một số vi khuẩn có khả năng tồn tại trong phạm vi dao động áp suất từ 0 - 400 atm, tuy nhiên chúng thường phát triển tốt nhất ở áp suất khí quyển. Nhiều vi khuẩn sinh trưởng tốt ở áp suất cao và được gọi là vi sinh vật ưa áp (barophile). Vi sinh vật ưa áp trung bình (moderate barophile) sinh trưởng tốt nhất ở 400 atm, tuy nhiên chúng có thể tồn tại ở 1 atm.

Vi sinh vật ưa áp cực đoan (extreme barophile) chỉ có thể phát triển ở áp suất cao. Sự thay đổi áp suất có ảnh hưởng rất lớn tới các quá trình sinh học của vi sinh vật như phân bào, lắp ráp tiên mao, tổng hợp DNA, vận chuyển chất qua màng, sinh tổng hợp protein. Các protein hình thành kênh vận chuyển vật chất ở màng thường hoạt động có hiệu quả ở một áp suất nhất định. Ngoài ra, vi sinh vật biển còn chịu ảnh hưởng của ánh sáng, người ta chia đại dương thành 2 vùng: vùng có ánh sáng (có thể quang hợp) và vùng không có ánh sáng (không thể quang hợp).

8 Hầu hết chất dinh dưỡng ở đại dương xuất hiện trong vùng nước từ bề mặt tới độ sâu 300 m. Đây là vùng ánh sáng có thể xuyên tới, ở đây có sự phát triển của thực vật phù du (tảo và vi khuẩn lam). Chỉ có 1% chất hữu cơ có nguồn gốc quang tổng hợp tới được thềm đại dương, phần còn lại bị phân huỷ trong quá trình rơi xuống. Nguồn dinh dưỡng tại đáy đại dương rất hạn chế vì vậy đây là vùng tồn tại các vi sinh vật có khả năng phát triển trong điều kiện nghèo dinh dưỡng.

Chu trình nitơ và lưu huỳnh cũng đóng vai trò quan trọng trong môi trường nước biển và tác động lớn đến các quá trình ở mức độ toàn cầu. Hàm lượng nitơ trong nước biển thường dao động, ở vùng nước biển chứa nồng độ oxi thấp thì sẽ xảy ra hiện tượng phản nitrate hóa (sử dụng NO3- và NO2- là chất oxi hóa và giải phóng nitơ vào khí quyển) dẫn đến làm giảm tỷ lệ N: P trong nước. Ngược lại, sự cố định nitơ xảy ra mạnh mẽ sẽ làm tăng lượng nitơ trong nước. Điều này cho thấy nitơ chứ không phải phospho đã hạn chế các hoạt động sinh học trong môi trường biển.

Chu trình Cacbon ở trong môi trường biển vẫn chưa được nghiên cứu kỹ, tuy nhiên một điều rõ ràng là vi sinh vật có ảnh hưởng lớn tới chu trình cacbon ở đây. Vi sinh vật ở đại dương tác động đến chu trình cacbon toàn cầu và mối liên hệ giữa đại dương và khí quyển. Hầu hết sự biến đổi của cacbon xảy ra ở vùng nước bề mặt, chất hữu cơ không tan (POC), chất hữu cơ hòa tan (DOC) và mêtan hydrat là nguồn cacbon chính ở đại dương. Đại dương còn chứa HCO3- và CO2 hòa tan có nguồn gốc từ khí quyển.

Do sự bổ sung chất hữu cơ từ đất liền nên số lượng vi sinh vật tổng số ở vùng bờ biển nhiều hơn là ở vùng giữa biển (Prescott, 2002; Nguyễn Lân Dũng, 2006). Sơ đồ chu trình chuyển hóa nitơ trong hệ sinh thái biển Mô hình chu trình chuyển hoá Nitơ trong hệ sinh thái biển được biểu diễn trên sơ đồ hình 1. Trong chu trình, nguyên tố Nitơ được chuyển hoá qua 5 hợp phần: thực vật nổi (Phytoplankton- sinh khối được ký hiệu là PHY), động vật nổi (Zooplankton - ZOO), chất hữu cơ hoà tan (Dissolved Organic Matter - DOM), Amoni (Amonium - AMO), Nitrit (Nitrite - NIT), Nitrat (Nitrate – NAT) (Đoàn Bộ, 1997, 1998; Nguyễn Ngọc Tiến và ctv, 2011). Sơ đồ chu trình chuyển hoá Nitơ trong hệ sinh thái biển Chú giải: PHY: Phytoplankton; ZOO: Zooplankton; DOM: Chất hữu cơ hoà tan; AMO: Amoni; NIT: Nitrat; 1.

9: Các quá trình chuyển hoá; →: Hướng chuyển hoá Quá trình chuyển hoá 1: Quang hợp của Phytoplankton. Trong quá trình này dưới tác động của năng lượng ánh sáng mặt trời, Phytoplankton đã sử dụng khí CO2, nước và các muối dinh dưỡng trong đó có amoni, nitrit và nitrat của môi trường để tổng hợp chất hữu cơ. Quá trình này đã chuyển hoá nitơ vô cơ từ môi trường thành nitơ liên kết trong tế bào tảo (làm giảm AMO, NIT và NAT và làm tăng PHY).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ