CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE VAY NO NƯỚC NGOÀI 1. Tong quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về vay nợ nước ngoài, đặc biệt là những bài viết về vay nợ nước ngoài - ODA, nhận thấy răng có rất nhiều những bài viết và bài nghiên cứu khoa học về nguồn vốn ODA nói chung và ODA tại Việt Nam nói riêng của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước. Đó là các bài nghiên cứu, các văn bản pháp luật có nội dung liên quan đến thực trạng vay vốn ODA, cũng như các kinh nghiệm quốc tế về vay nợ từ nguồn vốn ODA cho Việt Nam. Nội dung tổng quan a) Các nghiên cứu tong quan về ODA, về tình hình vay, quản lý, sử dụng ODA và kinh nghiệm quan ly ODA Helmut Fuhrer (1996) trong nghién ctru “A history of the development assistance committee and the development co-operation directorate in dates, names and figures” đã đưa ra khái niệm về nguồn vốn ODA của Tổ chức Hợp tác và Phat triển Kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development) là nguồn vốn hỗ trợ nhằm tăng cường phat triển kinh tế và xã hội của các nước đang/kém phát triển với thành tố ưu đãi (grant) chiếm một khoảng xác định trong viện trợ này.
Nguồn ODA được phân biệt với các nguồn vốn đầu tư khác khi có hai đặc điểm chính: (i) Day là khoản hỗ trợ phát triển chính thức; (ii) Được xác định bởi thành tố ưu đãi. Dựa trên hai yếu tố đó giúp chúng ta xác định được nguồn vốn đầu tư đó có phải là nguồn vốn ODA hay không. Paul Mosley, Jame Harrigan, John Toye (2006), “Aid and power, The World bank and Policy”, các tác giả nêu những bài học kinh nghiệm về sử dụng viện trợ và tính hai mặt khi tiếp nhận viện trợ của một số nước. Trong đó nêu được sự rang buộc đối với nước tiếp nhận viện trợ khi phải nhập chủ yếu hàng hóa có xuất xứ từ các nước cấp viện trợ và sử dụng chuyên gia với chi phí cao hơn thị trường, làm giảm hiệu quả viện trợ.
Theo Jin-Wook Choi (2011), “From A Recipient To A Donor State: Achievements And Challenges Of Korea’s ODA”, ODA được hiểu dưới góc độ lý tưởng và thực dụng. Theo cách tiếp cận lý tưởng, coi viện trợ ODA xuất phát từ lợi ích của nước tiếp nhận hơn là nước viện trợ (Lumsdaine và Schopf, 2007). Điều này phù hợp với bản chất của ODA là nhằm mục đích nhân đạo (Maizels và Nissanke, 1984). Còn cách tiếp cận thực dụng có xu hướng tập trung vào lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia của nước cung cấp viện trợ ODA (Arnold, 1985; Morgenthau, 1962; Noẽl và Thérien, 1995).
b, Các nghiên cứu về hiệu quả của nguôn vẫn ODA vào phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Các nghiên cứu cua Boone (1996), Morrissey và Lensink (2000) đã tập trung đánh giá hiệu quả của nguồn vốn ODA đối với các nước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế của dưới góc nhìn kinh tế vi mô, chỉ ra những tác động tiêu cực, mặt hạn chế khi tiếp nhận nguồn vốn ODA của các nước đang phát triển. Đó là việc nhận nguồn viện trợ không ồn định và không chắc chắn từ bên ngoài đã ảnh hưởng tiêu cực đến các chính sách tài chính và đầu tư của quốc gia đó. Các nghiên cứu này cũng nhấn mạnh trách nhiệm của các nhà tai trợ trong chính sách về ODA. Cả ba tác giả đều đã khăng định rằng tác động của ODA là nguy hiểm và tiêu cực đến phát triển kinh tế, phần lớn là do tham nhũng từ trong nội bộ và sự thiếu hiệu quả trong quá trình thực hiện nguồn vốn ODA.
David Dollar - Trưởng ban kinh tế vĩ mô và nhóm tăng trưởng của WB và Lant Pritchett (thang 12 năm 2009), Đánh giá viện trợ: Cái gì có thể lam, cái gi không và Tại sao? Cac tac giả nêu ra những tác động quan trọng của viện trợ ODA đối với các nước tiếp nhận, đặc biệt là tác động của ODA đối với sự trưởng kinh tế đất nước và vấn đề hai mặt của việc tiếp nhận viện trợ ODA, vay kém ưu đãi. SANGKIJIN, Korea Student Aid Foundation (KOSAF), South Korea &CHEOLH.OH, Soongsil University, South Korea (2012), đã nghiên cứu phan tích hiệu qua sử dung nguồn vốn ODA tại các nước nhận viện trợ, trên cơ sở phân tích dữ liệu thu hút và sử dụng ODA tại 117 quốc gia trong suốt 28 năm 1980-2008. Kết quả phân tích cho thấy hiệu quả kinh tế ODA của các nước đang phát triển khác nhau tùy thuộc vào điều kiện chính trị (ví dụ, minh bạch quốc gia), và điều kiện kinh tế của từng quốc gia (ví dụ, mức thu nhập). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, một khi mức độ minh bạch của một quốc gia đạt đến một điểm nhất định, hiệu ứng cận biên ròng kinh tế ODA cho các quốc gia giảm, thì ODA tác động có hiệu quả đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các Quốc gia nhận viện trợ.
Tun Lin Moe, với nghiên cứu “An empirical investigation of relationships between official development assistance (ODA) and human and educational development”, đã đánh giá tác động của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào sự phát triển giáo dục và con người ở tám quốc gia được lựa chọn tại khu vực Nam Á và chỉ ra sự khác biệt các chỉ số phát triển con người; cơ sở hạ tầng và chất lượng giáo trình, giáo viên đã được cải thiện sau 15 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA. c) Các nghiên cứu của các chuyên gia quốc tế, các tổ chức về quản lý và sử dụng ODA ở Việt Nam Các báo cáo hàng năm của DAC/OECD về tình hình thực hiện nguồn viện trợ ODA ở Việt Nam, thông qua các phương thức viện trợ, hiệu quả viện trợ, ứng xử của các nhà tải trợ. Các báo cáo của ADB, WB, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP)., báo cáo về trường hợp viện trợ ở Việt Nam. Sarah Mulley and Alina Rocha Menocal (2006), “Learning from experience? A review of recipientgovernment efforts to manage donor relations and improve the quality of aid”, giới thiệu cac mô hình thu hút, quản ly và sử dung ODA ở các nước như: Afghanistan, Mozambique, Uganda, Tanzania và Việt Nam.
Hà Thi Ngoc Oanh (2004), “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) — Những hiểu biết cơ bản và thực tiễn ở Việt Nam ”, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, đã đưa ra cơ sở lý luận khoa học về ODA nói chung và thực tiễn về quá trình thu hút và sử dụng ODA ở Việt Nam nói riêng. Nguyễn Quyết (2013), “Quan hệ của viện trợ nước ngoài và tăng trưởng kinh té thực tiễn tại Việt Nam”. Bài nghiên cứu đã chứng minh rang trong dài hạn, cũng như trong ngắn hạn dòng viện trợ có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nguyễn Thi Vii Ha (2018), “Vai trò của ODA trong phát triển cơ sở hạ tang kinh tế ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra” Bài viết đã phân tích thực trạng và vai trò của ODA đối với phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2010 — 2017, dựa trên số liệu về tình hình thực hiện các chương trình, dự án ở Việt Nam của các nhà tài trợ được công bố trên hệ thong dữ liệu website của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
Bùi Đình Viên (2016), “Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn wu đãi khi Việt Nam trở thành nước có mức thu nhập trung bình” Luận án tiến sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả đã chỉ ra tác động của viện trợ đến một số lĩnh vực, ngành quan trọng của kinh tế Việt Nam, trong đó phải kế đến giao thông vận tải, năng lượng và công nghiệp, môi trường và phát triển đô thị, y tế giáo dục. Nguyễn Hữu Dũng (2017), “Thu hút và sử dụng ODA từ các tổ chức quốc tế của Việt Nam sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cẩu”, Luận án tiến sỹ, nghiên cứu của tác giả trong luận văn này tập trung phân tích và đánh giá thực trang tình hình thu hút, sử dụng vốn ODA của các té chức quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1993 — 2015, đặc biệt đánh giá thực trạng, tình hình quản lí và sử dụng nguôồn vốn này sau khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra năm 2008, làm rõ những thành tựu và hạn chế cũng như nguyên nhân trong quá trình sử dụng nguồn vốn này, từ đó xây dựng giải pháp nhằm thu hút và sử dụng vốn ODA tối ưu trong bối cảnh mới ở Việt Nam. Nguyễn Văn Tuấn (2019) “Tăng cường hiệu quả sử dụng vốn ODA ở Việt Nam”, Luận án tiễn sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội. Tác giả đã đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam đến năm 2019, Luận án gợi mở một số chính sách và thé chế quan ly dé tối đa hóa hiệu quả nguồn vốn nay, phục vụ cho phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Từ các báo cáo từ các Bộ chủ quản, Sở chuyên ngành (18 Bộ cùng các Sở chuyên ngành tại 63 tỉnh thành đều có Vụ/Phòng quan hệ/hợp tác quốc tế phụ trách quản lý nguồn vốn ODA). Các cơ quan này hàng năm đều có báo cáo riêng về thực trạng và tông kết tình hình thu hút, quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA về lĩnh vực ma mình phụ trách. Khoảng trồng để lại và các van dé cần được nghiên cứu Tổng kết các nghiên cứu trong và quốc tế cho thấy, các công trình này đã nêu được: (i) Một số van đề về lý luận về ODA như khái niệm, nguồn vốn ODA, đặc biệt đưa ra các mô hình lý thuyết minh chứng cho việc cung cấp ODA là có cơ sở khoa học; (1) Chỉ ra được các mối liên hệ giữa ODA với tăng trưởng và phát triển kinh tế- xã hội; (iii) Dua ra được ra được một số kinh nghiệm về thu hút, quản lý và hiệu quả sử dụng ODA của các nước trong khu vực và thế giới và bài học rút ra đối với Việt Nam; (iv) Gợi mở một số chính sách nhằm tăng khả năng thu hút, quản lý và sử dụng hiệu quả viện trợ nói chung và cho một số lĩnh vực cu thé như phát triển nông thôn, phát triển hạ tầng cơ sở, y tế, nông nghiệp. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đánh giá thực trạng thu hút, quản lý và sử dụng vốn ODA nói chung mà chưa có những nhận định tổng quan về mỗi quan hệ giữa vay nợ nước ngoài và ODA, đó chính là vốn ODA là một phan của vay nước ngoài của Chính phủ.