Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Pháp luật về vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế". Chuyên ngành: Luật học (Luật Kinh tế / Luật Thương mại quốc tế). Hướng tiếp cận nghiên cứu: Nghiên cứu định tính, kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý, lịch sử lập pháp và phương pháp so sánh luật học.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự gia tăng của tự do hóa thương mại và yêu cầu vận chuyển hàng hóa qua các phương thức vận tải kết hợp. Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế tạo ra nhu cầu lớn đối với hạ tầng và dịch vụ vận tải. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2015–2019 đạt mức: năm 2015 tăng 6,68%; năm 2016 tăng 6,21%; năm 2017 tăng 6,81%; năm 2018 ước tính tăng 7,08%; năm 2019 tăng 7,02%. Báo cáo Logistics năm 2018 của Bộ Công thương ghi nhận năm 2017, sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển ước đạt 536,4 triệu tấn (tăng 17% so với năm 2016), hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển chiếm khoảng 90%; trong 9 tháng đầu năm 2018, vận tải hàng hóa đường bộ đạt 934,7 triệu tấn (tăng 10,8%); vận tải thủy nội địa 8 tháng đầu năm 2018 đạt 189,5 triệu tấn (tăng 7,3%).

Chỉ tiêu kinh tế và vận tải hàng hóa Thời gian ghi nhận Số liệu thực tế / Tăng trưởng
Tăng trưởng GDP Việt Nam Năm 2015 6,68%
Tăng trưởng GDP Việt Nam Năm 2016 6,21%
Tăng trưởng GDP Việt Nam Năm 2017 6,81%
Tăng trưởng GDP Việt Nam Năm 2018 7,08% (ước tính)
Tăng trưởng GDP Việt Nam Năm 2019 7,02%
Hàng hóa thông qua cảng biển Năm 2017 536,4 triệu tấn (tăng 17% so với 2016)
Tỷ trọng hàng xuất nhập khẩu qua đường biển Năm 2017 Khoảng 90%
Vận tải hàng hóa đường bộ 9 tháng đầu năm 2018 934,7 triệu tấn (tăng 10,8%)
Vận tải hàng hóa đường thủy nội địa 8 tháng đầu năm 2018 189,5 triệu tấn (tăng 7,3%)

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Trong khi các quốc gia trong khu vực đã sớm ban hành đạo luật chuyên ngành (Ấn Độ ban hành Luật Vận tải đa phương thức hàng hóa năm 1993; Trung Quốc quy định hợp đồng vận tải đa phương thức tại Mục 4 Chương 17 Luật Hợp đồng năm 1999; Thái Lan ban hành Luật Vận tải đa phương thức năm 2005; Myanmar ban hành Luật Vận tải đa phương thức năm 2014), Việt Nam mới ban hành văn bản ở cấp nghị định gồm Nghị định số 125/2003/NĐ-CP và Nghị định số 87/2009/NĐ-CP, chưa có luật điều chỉnh riêng biệt. Các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế hoặc chỉ khảo cứu từng khía cạnh riêng lẻ như trách nhiệm của người vận chuyển, thiếu công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về mặt pháp lý trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về vận tải đa phương thức và pháp luật về vận tải đa phương thức; đánh giá thực trạng pháp luật và hiệu quả thi hành pháp luật tại Việt Nam; đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống quy phạm và nâng cao hiệu quả thực thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức (khái niệm, đặc điểm pháp lý, lịch sử hình thành, mô hình, vai trò).
  2. Nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh vận tải đa phương thức, xác định các yếu tố chi phối trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và hiệu quả thi hành tại Việt Nam; đối chiếu, so sánh với các điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia.
  4. Nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành.

Câu hỏi nghiên cứu:

  • Cơ sở lý luận của pháp luật về vận tải đa phương thức bao gồm những nội dung nào?
  • Những tồn tại, bất cập trong hệ thống pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức tại Việt Nam là gì?
  • Cần hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức tại Việt Nam theo những định hướng và giải pháp nào để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế?

Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật vận tải đa phương thức của Việt Nam bước đầu đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các nội dung đặc thù, trọng tâm là trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức. Tuy nhiên, hệ thống vẫn tồn tại sự thiếu thống nhất giữa quy định về vận tải đa phương thức và các luật điều chỉnh vận tải đơn thức, một số quy phạm chưa rõ ràng gây trở ngại trong áp dụng thực tiễn. Việc sửa đổi, bổ sung cần bảo đảm tính đồng bộ với pháp luật vận tải, logistics nói chung và bảo đảm sự tương thích với các chuẩn mực pháp lý quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học về vận tải đa phương thức và pháp luật về vận tải đa phương thức; hệ thống quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam; quy định trong điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia; thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về không gian: Tập trung vào quy định và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; nghiên cứu pháp luật quốc tế và một số quốc gia mang tính chất so sánh, đối chiếu học tập kinh nghiệm.
  • Về thời gian: Khảo cứu từ thời điểm khái niệm "hội nhập" được đề cập chính thức tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 đến thời điểm thực hiện luận án.
  • Về nội dung: Nghiên cứu các quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong vận tải đa phương thức. Luận án loại trừ các quan hệ phụ trợ liên quan như bảo hiểm, đại lý vận tải, dịch vụ xếp dỡ và giao nhận đơn lẻ.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia thành ba nhóm nội dung nghiên cứu chính ở trong và ngoài nước:

  1. Nhóm nghiên cứu về lý luận vận tải đa phương thức:
  • Nghiên cứu quốc tế: Marian Hoeks (2010) trong công trình xuất bản bởi Kluwer Law International đã phân tích lịch sử vận tải đa phương thức gắn với cuộc cách mạng container từ thập niên 1950. Ruth Banomyong (2010) khảo cứu các hành lang vận tải đa phương thức tại Đông Nam Á, chỉ ra các nỗ lực xây dựng khung pháp lý của Viện UNIDROIT từ thập niên 1930 và dấu mốc Quy tắc UNCTAD/ICC năm 1992. Christine Besong (2007) phân tích các định nghĩa và tính chất của vận tải đa phương thức dựa trên khái niệm phương thức vận chuyển. Caroline Colebunders (2013) làm rõ hai đặc điểm cơ bản gồm hợp đồng duy nhất và sự kết hợp nhiều phương thức. Arthur Donovan (2000) phân tích lịch sử vận tải đa phương thức tại Hoa Kỳ từ thập niên 1960. W. Richard Cassady và Royce O. Bowden (2000) xây dựng định nghĩa bao hàm cả vận chuyển hàng hóa và hành khách trong hành trình liền mạch. Donald G. Janelle và Michel Beuthe (2007) phân tích tác động qua lại giữa toàn cầu hóa và quản trị vận tải. Báo cáo nhóm tư vấn ACEA (2011) dự báo sự chuyển dịch dòng chảy thương mại và hành lang vận tải toàn cầu đến năm 2028 và 2030.
  • Nghiên cứu trong nước: Viện Khoa học Kinh tế Giao thông Vận tải với đề tài cấp Bộ do TS. Nguyễn Đình Đăng chủ nhiệm (1994) nghiên cứu cơ sở ứng dụng vận tải đa phương thức. Tác giả Tô Thanh Bình phân chia quá trình phát triển vận tải đa phương thức tại Việt Nam thành ba giai đoạn (1980–1986, 1986–2003 và từ 2003 đến nay). Tác giả Nguyễn Hồng Vân (1997, 2000, 2003, 2005, 2006, 2007, 2010, 2012) nghiên cứu chuyên sâu về quy trình thủ tục giao nhận hàng hóa và hạ tầng cảng container. Vũ Thế Bình (2000) nghiên cứu lựa chọn container trong vận tải đa phương thức. Nguyễn Thị Phương (2008) nghiên cứu quản lý, khai thác cảng container. Tống Quốc Đạt (2006) nghiên cứu các vấn đề đặt ra đối với ngành giao thông vận tải trong tiến trình hội nhập.
  1. Nhóm nghiên cứu về lý luận pháp luật vận tải đa phương thức:
  • Nghiên cứu quốc tế: Báo cáo UNCTAD (2001) về thực thi quy tắc vận tải đa phương thức giải thích sự cần thiết của khung pháp lý quốc tế trước sự phát triển kỹ thuật container. Marian Hoeks (2010) khảo sát bản chất hợp đồng theo pháp luật Đức và Hà Lan. De Wit Ralph phân tích trách nhiệm người vận chuyển và chứng từ vận tải qua so sánh 6 quốc gia (Bỉ, Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, Hoa Kỳ). Haedong Jeon (2013) phân loại ba lý thuyết về bản chất hợp đồng (hợp đồng riêng biệt - contract sui generis, hợp đồng hỗn hợp - mixed contract, hợp đồng gộp chung - absorbed contract) và đối chiếu hai cơ chế trách nhiệm theo Quy tắc Rotterdam và Quy chế dự thảo của Liên minh Châu Âu (EU Draft Regime). Nnenna Ifeanyi-Ajufo nghiên cứu việc áp dụng chứng từ điện tử và pháp luật thương mại điện tử trong vận tải đa phương thức.
  • Nghiên cứu trong nước: Các giáo trình Luật Thương mại quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Đại học Luật Hà Nội (2000, 2016, 2017), Đại học Kinh tế Quốc dân (1999, 2006) đã giới thiệu khái niệm, chứng từ và trách nhiệm hợp đồng. Các bài viết của Nguyễn Hồng Vân (2004) và TS. Dương Văn Bạo (2014) khảo sát và đề xuất thống nhất chế độ trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO).
  1. Nhóm nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành:
  • Nghiên cứu quốc tế: Arvind Kumar (2014) khảo sát các rào cản pháp lý và xác định luật áp dụng tại Ấn Độ. Ling Zhu, M. Deniz Guner-Ozbek, Hong Yan so sánh trách nhiệm người vận chuyển trong Luật Hợp đồng, Bộ luật Hàng hải Trung Quốc với pháp luật Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu. Hannu Honka (2000) đánh giá pháp luật cạnh tranh của Ủy ban Châu Âu đối với các thỏa thuận vận tải đa phương thức. Các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank năm 2006, 2014) đánh giá hiện trạng mạng lưới giao thông và khuôn khổ thể chế vận tải đa phương thức tại Việt Nam. Luận án của Trịnh Thị Thu Hương (2004) tại Bỉ phân tích khía cạnh kinh tế thương mại của vận tải đa phương thức ở Việt Nam.
  • Nghiên cứu trong nước: Tác giả Lý Huy Tuấn (2016) đánh giá thực trạng quản lý vận tải sau khi gia nhập WTO. Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2008) nghiên cứu chế định trách nhiệm của người vận chuyển trong luận văn thạc sĩ luật học.
Nhóm tác giả / Tổ chức Năm Tên công trình / Tài liệu trích dẫn Khía cạnh tiếp cận chính
Marian Hoeks 2010 Multimodal Transport Law: The law applicable to the multimodal contract for the carriage of goods Lịch sử container hóa, hợp đồng đơn nhất, luật Đức và Hà Lan
Ruth Banomyong 2010 Multimodal transport corridors in South East ASEAN: a case study approach Hành lang vận tải Đông Nam Á, lịch sử UNIDROIT và UNCTAD/ICC
Christine Besong 2007 Towards a modern role for liability in multimodal transport law Khái niệm phương thức, bản chất hợp đồng, chế độ trách nhiệm
Caroline Colebunders 2013 Multimodal cargo carrier liability and insurance: in search of suitable regime Hai đặc trưng cơ bản của VTĐPT, bảo hiểm và trách nhiệm
Haedong Jeon 2013 Coping with muddles and uncertainty in the field of multimodal transport liability 3 lý thuyết hợp đồng, Quy tắc Rotterdam, EU Draft Regime
UNCTAD 2001 Implementation of multimodal transport rules (UNCTAD/SDTE/TLB/2) Khảo sát luật quốc gia và các khối khu vực (Andean, MERCOSUR, ALADI, ASEAN)
World Bank 2006, 2014 Transport Strategy Transition... / Facilitating Trade through Competitive, Low-Carbon Transport... Đánh giá mạng lưới hạ tầng, chi phí logistics và hành lang pháp lý Việt Nam
Nguyễn Hồng Vân 2007 Hoàn thiện thủ tục giao nhận hàng hoá trong vận tải đa phương thức ở Việt Nam Khía cạnh kinh tế, thủ tục giao nhận, hạ tầng cảng biển và cảng nội địa
TS. Dương Văn Bạo 2014 Thống nhất chế độ trách nhiệm mới của MTO trong vận tải đa phương thức Phân tích bất cập và đề xuất chế độ trách nhiệm của MTO
Nguyễn Thị Thu Hằng 2008 Trách nhiệm của người vận chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức Khảo cứu pháp lý về chế định trách nhiệm của người vận chuyển

Khoảng trống luận án giải quyết: Luận án là công trình chuyên sâu cấp tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật vận tải đa phương thức; đánh giá toàn diện hệ thống quy phạm và thực tiễn thi hành từ các điều kiện kinh doanh, tư cách chủ thể, chế độ hợp đồng đến cơ chế giải quyết tranh chấp; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi đáp ứng điều kiện hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm sử dụng:

  • Khái niệm vận tải đa phương thức theo luật học: Là hình thức vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận chuyển, thực hiện trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức, phát hành một chứng từ vận tải duy nhất và do một người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình vận chuyển từ nơi tiếp nhận hàng ở một quốc gia đến địa điểm chỉ định giao hàng ở một quốc gia khác (hoặc trong phạm vi nội địa).
  • Lý thuyết về bản chất hợp đồng vận tải đa phương thức: Khảo cứu ba mô hình lý thuyết gồm hợp đồng riêng biệt (the contract sui generis), hợp đồng hỗn hợp (the mixed contract) và hợp đồng gộp chung (the absorbed contract).
  • Cơ chế trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đa phương thức: Khảo cứu chế độ trách nhiệm thống nhất (Uniform Liability System), chế độ trách nhiệm từng chặng (Network Liability System) và các dạng chế độ sửa đổi.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Sử dụng để luận giải sự hình thành, phát triển của phương thức vận tải đa phương thức và các quy định pháp luật điều chỉnh tương ứng với các điều kiện kinh tế, công nghệ và xã hội qua từng giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp và phân tích quan điểm pháp lý: Sử dụng để xây dựng hệ thống lý luận về cấu trúc, nội dung, nguyên tắc của pháp luật vận tải đa phương thức; tổng hợp, đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật thực định.
  • Phương pháp phân tích, đối chiếu và so sánh luật học: Sử dụng xuyên suốt nhằm đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế đa phương, khu vực và pháp luật của các quốc gia như Đức, Hà Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar.
  • Phương pháp diễn giải, quy nạp và dự báo: Sử dụng để đánh giá xu hướng phát triển của dịch vụ vận tải và chuỗi cung ứng, từ đó quy nạp và luận chứng cho các đề xuất, định hướng hoàn thiện pháp luật.

Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật chuyên ngành Giao thông vận tải, Thương mại, Dân sự; Nghị định số 125/2003/NĐ-CP và Nghị định số 87/2009/NĐ-CP.
  • Điều ước quốc tế và quy tắc khu vực: Công ước Liên Hợp quốc về Vận tải đa phương thức quốc tế năm 1980, Quy tắc UNCTAD/ICC về Chứng từ vận tải đa phương thức năm 1992, Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức (AFAMT 2005), Công ước Warsaw (WC), Công ước CMR, Quy tắc Rotterdam.
  • Dữ liệu thống kê và báo cáo ngành: Báo cáo Logistics Việt Nam của Bộ Công thương, số liệu thống kê kinh tế xã hội của Tổng cục Thống kê, báo cáo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và UNCTAD.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về vận tải đa phương thức và pháp luật về vận tải đa phương thức

Nội dung chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng về vận tải đa phương thức và hệ thống pháp luật điều chỉnh:

  • Lịch sử hình thành và phát triển: Hoạt động vận tải đa phương thức được ghi nhận qua các mốc lịch sử: năm 1930 trên tuyến đường sắt Liverpool – Manchester với hình thức toa xe rời kéo trên toa phẳng (RO-RO); năm 1939 tại tuyến Birmingham – Derby chuyển container từ toa xe lửa sang xe kéo; tại Pháp trước Chiến tranh thế giới thứ nhất với dịch vụ kết hợp đường bộ - đường sắt - đường biển giữa Paris và London dùng thùng gỗ "cadres" (2x2x2m); năm 1948 công ty CNC tại Pháp vận chuyển khung thép bằng vận đơn chở suốt. Tháng 4/1956 đánh dấu cuộc chuyển đổi công nghệ container của Malcolm MacLean trên tuyến New Jersey – Texas bằng xe tải kết hợp tàu biển. Cuối thập niên 1960, các công ty đường sắt châu Âu và Bắc Mỹ triển khai kéo sơ-mi rơ-moóc (semi-trailer) trên toa xe lửa. Năm 1968 khởi đầu giai đoạn tàu chuyên dụng chở container dạng tổ ong (cellular container vessel). Tại Việt Nam, năm 1982 công ty Vietfracht tổ chức chuyến vận chuyển đa phương thức đầu tiên từ TP. Hồ Chí Minh đi Paris (đường biển qua Biển Đen bằng tàu Interlighter, kéo sà lan đến Regensburg Đức, tàu hỏa đến Paris); công ty Vietrans tổ chức vận chuyển từ Hải Phòng đi Tiệp Khắc (Hải Phòng - Singapore bằng tàu Blasco, Singapore - Trieste bằng tàu Hapaglloyd, ô tô đi Chop và tàu hỏa về Praha).
  • Khái niệm và 6 đặc điểm pháp lý cơ bản của vận tải đa phương thức:
    1. Có sự tham gia của ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trong một hành trình liền mạch.
    2. Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) hành động với tư cách chủ thể độc lập, chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý toàn bộ chuỗi vận chuyển thông qua các hợp đồng phụ với người chuyên chở thực tế.
    3. Quá trình vận chuyển chỉ dựa trên một hợp đồng vận tải duy nhất và được thể hiện bằng một chứng từ vận tải đa phương thức hoặc vận đơn chở suốt duy nhất.
    4. Duy nhất một người (MTO) chịu trách nhiệm về hàng hóa trong toàn bộ hành trình trước người gửi hàng theo chế độ trách nhiệm thống nhất hoặc chế độ trách nhiệm từng chặng.
    5. Người gửi hàng thanh toán một giá cước chở suốt duy nhất cho toàn bộ các chặng vận chuyển.
    6. Phạm vi vận tải rộng, kết hợp nhiều loại hình phương tiện kỹ thuật và công cụ mang hàng (container, pallet, trailer) trên quy mô quốc tế hoặc nội địa.
  • Bản chất pháp lý của hợp đồng và cấu trúc pháp luật vận tải đa phương thức: Phân tích ba lý thuyết về hợp đồng (hợp đồng riêng biệt, hợp đồng hỗn hợp, hợp đồng gộp chung); xác định nguyên tắc, cấu trúc quy phạm và các yếu tố kinh tế, công nghệ, thể chế quốc tế tác động đến pháp luật vận tải đa phương thức.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam

Chương 2 phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam trên 4 phương diện chính:

  • Quy định về điều kiện kinh doanh vận tải đa phương thức: Khảo sát các điều kiện gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; phân tích các tiêu chuẩn về năng lực tài chính, tài sản, giấy phép kinh doanh theo Nghị định số 125/2003/NĐ-CP và Nghị định số 87/2009/NĐ-CP; chỉ ra các điểm bất cập trong thủ tục hành chính và điều kiện cấp phép.
  • Quy định về chủ thể tham gia quan hệ vận tải đa phương thức: Phân định địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO), người gửi hàng (consignor), người nhận hàng (consignee) và mối quan hệ pháp lý với những người chuyên chở thực tế (actual carriers).
  • Quy định về hợp đồng và chế độ trách nhiệm trong vận tải đa phương thức: Phân tích cơ chế phát hành, giá trị pháp lý của chứng từ vận tải đa phương thức; đánh giá sự vận hành của chế độ trách nhiệm từng chặng (Network Liability System) đang được áp dụng tại Việt Nam; phân tích giới hạn trách nhiệm, thời hạn thông báo tổn thất và thời hiệu khởi kiện khi có mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trên các chặng vận tải không xác định được địa điểm tổn thất hoặc trên từng chặng cụ thể.
  • Thực tiễn thi hành pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp: Đánh giá sự xung đột quy phạm giữa pháp luật vận tải đa phương thức với các bộ luật điều chỉnh ngành chuyên biệt (Bộ luật Hàng hải, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng); phân tích các vướng mắc trong giải quyết tranh chấp tại Tòa án và Trọng tài thương mại do thiếu cơ chế giải thích thống nhất.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về vận tải đa phương thức ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế

Chương 3 xây dựng các giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi:

  • Quan điểm và định hướng hoàn thiện: Xây dựng chính sách pháp luật phù hợp với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất nội tại giữa pháp luật vận tải đa phương thức với hệ thống pháp luật kinh tế, dân sự và thương mại; bảo đảm sự tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (đặc biệt là Hiệp định khung ASEAN về Vận tải đa phương thức - AFAMT và các cam kết trong khuôn khổ WTO).
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
    • Nâng cấp hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnh: Xây dựng Luật Vận tải đa phương thức hoặc bổ sung chương riêng về hợp đồng vận tải đa phương thức trong Bộ luật Dân sự/Luật Thương mại.
    • Sửa đổi, chuẩn hóa quy định về chế độ trách nhiệm của MTO: Thống nhất các quy tắc xác định lỗi, giới hạn bồi thường thiệt hại và căn cứ miễn trách, hài hòa giữa chế độ trách nhiệm từng chặng và chế độ trách nhiệm thống nhất sửa đổi.
    • Hoàn thiện khung pháp lý về chứng từ điện tử trong vận tải đa phương thức: Ban hành quy định chi tiết về giá trị chứng cứ và khả năng chuyển nhượng của vận đơn đa phương thức điện tử.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
    • Tăng cường năng lực quản lý nhà nước của Bộ Giao thông Vận tải và các cơ quan phối hợp liên ngành.
    • Cải cách thủ tục kiểm tra chuyên ngành và thủ tục hải quan đối với hàng hóa trung chuyển, chuyển tải trong vận tải đa phương thức.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm phán, trọng tài viên và hỗ trợ nâng cao nhận thức pháp lý cho các hiệp hội doanh nghiệp logistics và vận tải.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của luận án:

  1. Về mặt lý luận chung: Tổng hợp, hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận cơ bản về vận tải đa phương thức, bao gồm sự hình thành lịch sử gắn với tiến trình container hóa, khái niệm khoa học, các mô hình tổ chức và sáu đặc điểm pháp lý cơ bản của vận tải đa phương thức.
  2. Về lý luận pháp luật: Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về pháp luật vận tải đa phương thức, xác định rõ khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh, cấu trúc hình thức và nội dung của pháp luật vận tải đa phương thức, cùng các yếu tố chi phối trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
  3. Về mặt thực tiễn pháp lý: Khảo sát, phân tích toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam trên bốn khía cạnh (điều kiện kinh doanh, chủ thể, hợp đồng và chế độ trách nhiệm, giải quyết tranh chấp); nhận diện rõ sự thiếu đồng bộ giữa các luật chuyên ngành và sự bất cập của các văn bản dưới luật.
  4. Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng và các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi quy phạm pháp luật hiện hành, nâng cao giá trị pháp lý của khung điều chỉnh và thiết lập các biện pháp tổ chức thi hành phù hợp với chuẩn mực quốc tế và các hiệp định thương mại tự do.

Kiến nghị đề xuất từ kết quả nghiên cứu:

  • Kiến nghị cơ quan lập pháp sớm nghiên cứu ban hành Luật Vận tải đa phương thức hoặc pháp điển hóa quy định vận tải đa phương thức trong các đạo luật chung để đảm bảo hiệu lực pháp lý cao hơn văn bản cấp nghị định.
  • Kiến nghị Chính phủ và Bộ Giao thông Vận tải tiếp tục hoàn thiện các điều kiện kinh doanh dịch vụ theo hướng minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đồng thời rà soát nội dung các nghị định nhằm tương thích với Hiệp định AFAMT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Do giới hạn về phạm vi nội dung, luận án chỉ tập trung vào các quy định trực tiếp điều chỉnh quan hệ vận tải đa phương thức, chưa mở rộng nghiên cứu sâu các quy phạm điều chỉnh các hoạt động dịch vụ hỗ trợ như bảo hiểm trách nhiệm dân sự của MTO, đại lý hải quan, dịch vụ kho bãi và logistics tích hợp chuyên sâu.
  • Các khảo sát so sánh luật nước ngoài chỉ lựa chọn một số hệ thống pháp luật tiêu biểu (Đức, Hà Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar), chưa bao quát toàn bộ các nền kinh tế thành viên thuộc các khối thương mại tự do thế hệ mới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng nghiên cứu khuôn khổ pháp lý điều chỉnh việc ứng dụng công nghệ số và vận đơn điện tử có khả năng lưu thông trong vận tải đa phương thức quốc tế.
  • Khảo cứu sâu hơn về cơ chế bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người kinh doanh vận tải đa phương thức và mối quan hệ tương hỗ với các tổ chức bảo hiểm P&I quốc tế.

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với các nhóm đối tượng sử dụng:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học và tài liệu tham khảo cho Quốc hội, Chính phủ, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương trong việc soạn thảo, thẩm định chính sách, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về giao thông vận tải, dịch vụ logistics và điều ước quốc tế.
  • Cơ quan tài phán (Tòa án, Trọng tài thương mại): Cung cấp nguồn phân tích so sánh và giải thích thuật ngữ pháp lý phục vụ công tác xét xử, phân định trách nhiệm và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận tải đa phương thức.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên khảo trong các học phần Luật Thương mại quốc tế, Luật Hàng hải, Pháp luật Logistics và Kinh tế vận tải tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật và kinh tế ngoại thương.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vận tải đa phương thức xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam vào thời gian nào và do doanh nghiệp nào thực hiện? Dịch vụ vận tải đa phương thức tại Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1982 do Công ty Vietfracht tổ chức. Chuyến vận chuyển này đưa hàng hóa từ TP. Hồ Chí Minh đi Paris (Pháp) thông qua sự kết hợp của tàu biển hãng Interlighter qua Biển Đen, tàu kéo sà lan đến Regensburg (Đức) và tàu hỏa đến Paris. Cùng giai đoạn này, Công ty Vietrans cũng tổ chức vận chuyển hàng hóa từ Hải Phòng đi Tiệp Khắc kết hợp vận tải biển, đường bộ và đường sắt.

  2. Pháp luật Việt Nam hiện hành định nghĩa và phân loại vận tải đa phương thức như thế nào? Theo Nghị định số 87/2009/NĐ-CP (kế thừa Nghị định số 125/2003/NĐ-CP), vận tải đa phương thức là việc vận chuyển hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức. Pháp luật Việt Nam phân loại thành hai hình thức:

  • Vận tải đa phương thức quốc tế: Vận chuyển từ nơi tiếp nhận hàng hóa ở Việt Nam đến địa điểm chỉ định giao hàng ở nước khác và ngược lại.
  • Vận tải đa phương thức nội địa: Vận chuyển được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  1. Ba mô hình lý thuyết về bản chất pháp lý của hợp đồng vận tải đa phương thức được khảo cứu trong luận án gồm những gì? Luận án dẫn giải ba lý thuyết pháp lý cơ bản:
  • Hợp đồng riêng biệt (the contract sui generis): Xem hợp đồng vận tải đa phương thức là một loại hợp đồng độc lập với các đặc trưng và bản chất riêng biệt, không thuần túy là phép cộng của các hợp đồng vận tải đơn lẻ.
  • Hợp đồng hỗn hợp (the mixed contract): Tiếp cận hợp đồng như một sự kết hợp nhiều chế độ trách nhiệm khác nhau tương ứng với từng chặng vận tải cụ thể (gắn liền với chế độ trách nhiệm từng chặng).
  • Hợp đồng gộp chung (the absorbed contract): Một phương thức vận tải chính đóng vai trò chủ đạo sẽ chi phối và hấp thụ quy chế pháp lý của toàn bộ hợp đồng vận chuyển.
  1. Vì sao hệ thống văn bản pháp luật về vận tải đa phương thức tại Việt Nam bị đánh giá là chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn? Do tính đến thời điểm nghiên cứu, Việt Nam vẫn chưa có Luật Vận tải đa phương thức mà mới chỉ dừng lại ở các nghị định của Chính phủ (Nghị định số 125/2003/NĐ-CP và Nghị định số 87/2009/NĐ-CP). Các đạo luật vận tải đơn thức chuyên ngành (Bộ luật Hàng hải, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt, Luật Hàng không dân dụng) còn tồn tại quy định phân tán, thiếu tính đồng bộ và chưa tương thích hoàn toàn với các điều ước quốc tế khu vực như AFAMT.

  2. Sáu đặc điểm pháp lý cơ bản của vận tải đa phương thức được luận án đúc kết là gì? Sáu đặc điểm gồm: (1) Hoạt động vận chuyển có ít nhất hai phương thức vận tải tham gia tạo thành hệ thống liên hoàn; (2) Người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO) là trung tâm chịu trách nhiệm tổ chức bằng danh nghĩa độc lập; (3) Toàn bộ quá trình chỉ xác lập trên một hợp đồng và một chứng từ vận tải duy nhất; (4) Chỉ duy nhất MTO chịu trách nhiệm về hàng hóa trước người gửi hàng trong toàn bộ hành trình; (5) Người gửi hàng thanh toán một giá cước chở suốt cho toàn bộ các chặng; (6) Phạm vi vận tải rộng, sử dụng các công cụ mang hàng chuẩn hóa (container, pallet, trailer) trên mạng lưới quốc tế hoặc nội địa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về vận tải đa phương thức trong điều kiện hội nhập quốc tế" là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận, khung pháp luật thực định và thực tiễn thi hành vận tải đa phương thức tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích lịch sử, khảo cứu kinh nghiệm quốc tế và đánh giá sự xung đột giữa các văn bản quy phạm hiện hành, luận án đã xác lập các luận cứ khoa học vững chắc về bản chất hợp đồng và chế độ trách nhiệm của người kinh doanh vận tải. Các giải pháp và kiến nghị lập pháp do luận án đề xuất có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế vận tải và dịch vụ logistics Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.