Chương 1: Tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, UCP 600, ISBP 745 Chương 2: Thực trạng vận dụng các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp phát sinh trong Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 3: Giải pháp vận dụng hiệu quả các văn bản pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp trong thanh toán tín dụng chứng từ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ, UCP 600, ISBP 745 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ 1. Khái niệm Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ,… Trong số đó, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất.
Khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ. Theo giáo sư Dominique Legeais, khoa Luật, trường Đại học René Descartes (Paris V), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một NH (Ngân hàng phát hành - NHPH) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại NH một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng. Điều 2 trong UCP 600 của Phòng Thương Mại Quốc Tế đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh hơn, theo đó, tín dụng chứng từ là: Tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hoặc mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp. So với các phương thức thanh toán khác, thanh toán bằng L/C có những ưu điểm hơn đó là: Đối với nhà XK: Được NHPH (không phải nhà NK) bảo đảm thanh toán chắc chắn nếu xuất trình được bộ chứng từ XK phù hợp.
Đối với nhà NK: Được NHPH bảo đảm không phải trả tiền chừng nào chưa nhận được bộ chứng từ NK phù hợp. Nhà NK có cơ sở tin chắc rằng, NHPH sẽ không trả tiền trước khi nhà XK giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà XK phải xuất trình bộ chứng từ giao hàng; còn nhà XK tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng XK nếu trao cho NHPH bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C. Như vậy, phương thức L/C đã dung hòa được lợi ích và rủi ro giữa nhà XK và nhà NK, đây là ưu điểm vượt trội của phương thức này. Đặc điểm Trong phương thức L/C, có ba mối quan hệ hợp đồng được hình thành theo mô hình: NHPH Application L/C for L/C HĐ 2 HĐ 3 Nhà NK HĐ 1 Nhà XK Sale contrac Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ hợp đồng của ba chủ thể trong quy trình thanh toán L/C Hợp đồng 1: bao gồm quan hệ hợp đồng giữa người mua và người bán.
Hợp đồng có điều khoản quy định về phương thức thanh toán, nếu nhà XK và nhà NK đồng ý chọn phương thức thanh toán L/C thì nó cũng phải được thể hiện thành điều khoản trong hợp đồng mua bán. Hợp đồng 2: bao gồm quan hệ hợp đồng giữa nhà NK (người làm đơn mở L/C) và NHPH. Hợp đồng 3: bao gồm quan hệ hợp đồng giữa NHPH và nhà XK. Mối quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên, nhưng lại là một nghĩa vụ độc lập của NHPH, thể hiện cam kết của NHPH đối với nhà XK và là cơ sở để thanh toán khi nhà XK xuất trình được bộ chứng từ phù hợp.
Giao dịch thanh toán L/C có những đặc điểm cơ bản sau: Là hợp đồng kinh tế hai bên và mang tính độc lập với hợp đồng cơ sở, hàng hóa. Là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của hai bên là NHPH và nhà XK, đã có nhiều sự hiểu lầm cho rằng đây là hợp đồng kinh tế ba bên là của nhà NK, NHPH và nhà XK nhưng trên thực tế mọi yêu cầu và chỉ thị của nhà NK là do NHPH đại diện, do đó tiếng nói chính thức của nhà NK không được thể hiện trong L/C. 7 Về bản chất thì L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà hợp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C. Trong mọi trường hợp thì NH không liên quan đến hoặc bị ràng buộc vào hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng.
L/C có tính chất rất quan trọng, nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng này. Một khi L/C đã được mở và đã được các bên chấp nhận, thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay không, cũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến L/C. Một số nhà NK có thể sử dụng L/C như là công cụ dự phòng để cụ thể hóa, chi tiết hóa hoặc bổ sung những điều khoản mà hợp đồng thương mại đã được ký còn bỏ sót hoặc khi ký bị hớ, ngoài ra nó còn được coi như là công cụ để đính chính, sửa chữa những nội dung bất lợi trong hợp đồng ngoại thương đã ký kết. Thực hiện giao dịch chỉ thông qua chứng từ không căn cứ vào hàng hóa trong phƣơng thức tín dụng chứng từ.
Các NH khi làm việc chỉ trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình để quyết định xem trên bề mặt của chứng từ có tạo thành một xuất trình phù hợp hay không. Như thế, các chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằng chứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa đã được giao, vì vậy, chúng trở thành căn cứ để NH trả tiền, là căn cứ để nhà NK trả tiền cho NH, là chứng từ đi nhận hàng của nhà NK…Việc nhà XK có thu được tiền hay không, phụ thuộc vào việc xuất trình bộ chứng từ là có phù hợp hay không; đồng thời, NH cũng chỉ trả tiền khi bộ chứng từ xuất trình phù hợp, NH không chịu trách nhiệm về thực tế hàng hóa. Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà XK, mặc dù có thể trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ. Chính vì vậy, việc thanh toán L/C không căn cứ vào tình hình thực tế hàng hóa, nếu hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng mua bán, không liên quan đến NH.
Chỉ trong trường hợp chứng từ không phù hợp, mà NH vẫn thanh toán 8 cho người XK thì NH phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, bởi vì người NK có quyền từ chối thanh toán tiền cho NH. Là công cụ thanh toán hạn chế rủi ro và đôi khi còn là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo. Xét trên khía cạnh là công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà XK và nhà NK, L/C có nhiều ưu điểm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác. Chính vì thế mà phương thức này đã tồn tại và phát triển như ngày nay.
Trong thực tiễn thương mại quốc tế, do sự biến động thường xuyên của giá cả, tỷ giá, thị trường hàng hóa…nên L/C có thể bị lợi dụng trở thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán, và nó có thể bị lợi dụng để trở thành công cụ để lừa đảo, gian lận. Vai trò Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực NH. Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế. Trên thực tế, tín dụng chứng từ bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918).
Các nhà XK ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đã yêu cầu đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán. Tín dụng chứng từ được nhiều công ty, NH ưu tiên lựa chọn vì nó đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương mại quốc tế. Các NH với khả năng tài chính dồi dào, uy tín cao được ủy thác với vai trò trung gian nói trên, cam kết có điều kiện với người XK là sẽ trả tiền nếu người XK xuất trình chứng từ và tuân thủ đúng theo mọi quy định mà người NK đề ra. Như vậy, sự tham gia của NH vào phương thức tín dụng chứng từ đã đảm bảo cho lợi ích của nhà XK và nhà NK.
Thứ nhất, đối với ngƣời XK: phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng mua bán và các hợp đồng làm cơ sở cho thư tín dụng khác. Vì thế, khi nhà XK đã giao hàng và tập hợp được bộ chứng từ phù hợp L/C, việc được thanh toán là chắc chắn. Dù bất cứ trường hợp phát sinh, ví dụ như hàng hóa bị tổn thất trên đường vận chuyển thì việc hai bên giải quyết đền bù cũng không thể cản trở việc NHPH thanh toán tiền cho nhà XK. Rất có thể xảy ra trường hợp người NK gặp rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc là diễn biến giá cả thị trường không có lợi, người NK muốn trì hoãn thậm chí muốn từ chối nhận hàng và thanh toán tiền, gây bất lợi cho người XK nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì người XK vẫn chắc chắn nhận được tiền của NH.
Nếu như vậy, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào việc nhà XK có thể xuất trình được 9 bộ chứng từ hoàn hảo hay không. NH phục vụ người XK sẽ tư vấn làm sao người XK xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với thư tín dụng. Thứ hai, đối với nhà NK: Khi người XK và người NK chưa có sự tín nhiệm lẫn nhau, chắc chắn một điều là người XK không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền.