Tổng quan luận án
Luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài (sau đây gọi tắt là cơ chế ISDS) được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Anh Tuấn, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Bá Diễn, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, thuộc chuyên ngành Luật Quốc tế (mã số: 9380101.06).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng đầu tư quốc tế là phương thức chủ yếu để các quốc gia hội nhập kinh tế toàn cầu, được bảo đảm bằng hệ thống điều ước quốc tế về đầu tư như hiệp định đầu tư song phương (BIT), hiệp định thương mại tự do (FTA), hiệp định đối tác kinh tế (EPA) và các hợp đồng đầu tư quốc tế. Các khuôn khổ pháp lý này cho phép nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện nhà nước tiếp nhận đầu tư tại thiết chế tài phán trong nước hoặc trọng tài quốc tế. Sự khác biệt về hệ thống pháp luật, văn hóa pháp lý và những hạn chế trong quản lý hành chính của các quốc gia đang phát triển dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng các tranh chấp ISDS. Vấn đề giải quyết tranh chấp này gây ra thiệt hại tài chính nặng nề và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư của nước tiếp nhận đầu tư.
Tại Việt Nam, từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến Đại hội XII, chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện nhất quán. Các cam kết quốc tế và pháp luật trong nước thiết lập tiêu chuẩn bảo hộ cao cho nhà đầu tư nhưng lại thiếu các quy định phòng ngừa tranh chấp; trong khi đó, hoạt động thực thi của các cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp địa phương, còn nhiều lúng túng. Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực phòng ngừa và giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Trước bối cảnh nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về ISDS chưa được xử lý toàn diện, luận án tập trung giải quyết khoảng trống này nhằm củng cố luận cứ khoa học, hoàn thiện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ hơn luận cứ khoa học, thực trạng pháp luật và thực tiễn đối với cơ chế ISDS, từ đó đề xuất quan điểm, luận giải việc hoàn thiện cơ chế ISDS ở cả góc độ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về cơ chế ISDS;
- Nghiên cứu, phân tích pháp luật, thực tiễn quốc tế về cơ chế ISDS và những xu hướng phát triển của chúng;
- Phân tích, đánh giá pháp luật và thực tiễn cơ chế ISDS của Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật, thực tiễn quốc tế;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về cơ chế ISDS.
Đối tượng nghiên cứu là một số lý thuyết tiêu biểu liên quan trực tiếp đến cơ chế ISDS; pháp luật và thực tiễn quốc tế đối với cơ chế ISDS; kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý, sử dụng cơ chế ISDS; pháp luật và thực tiễn Việt Nam về cơ chế ISDS.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Không gian: Nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia phát triển và đang phát triển tiêu biểu (đặc biệt là các nước có điều kiện kinh tế - xã hội gần với Việt Nam), cùng hệ thống pháp luật và thực tiễn của Việt Nam.
- Thời gian: Khảo cứu diễn tiến từ nửa cuối thế kỷ XX đến năm 2018 (các yếu tố lịch sử hình thành được xem xét trong khung thời gian dài hơn; phạm vi nghiên cứu thực tiễn Việt Nam tập trung từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến năm 2018).
| Chỉ số thực trạng tranh chấp ISDS |
Số liệu ghi nhận trong luận án |
Nguồn tài liệu dẫn chứng |
| Tổng số vụ ISDS quốc tế tích lũy |
817 vụ (tính đến ngày 31/7/2017) |
Diễn đàn Thương mại và Phát triển LHQ (UNCTAD) |
| Tần suất tranh chấp quốc tế |
Bình quân hơn 65 vụ/năm (trong 5 năm 2012–2017) |
Thống kê từ website UNCTAD |
| Chi phí trung bình mỗi vụ ISDS |
Khoảng 8 triệu USD (vụ cá biệt vượt quá 30 triệu USD) |
Báo cáo năm 2012 của Tổ chức OECD |
| Số vụ khởi kiện nhà nước Việt Nam |
Gần 10 vụ (tính đến tháng 07/2018) |
Số liệu thực tiễn được luận án tổng hợp |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tại Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế ISDS xuất hiện khá muộn, chủ yếu trong khoảng 6 năm tính đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài (2018), với số lượng dưới 60 bài viết, công trình (trong đó có chưa đến 30 công trình nghiên cứu chuyên sâu):
- Về lý thuyết quyền miễn trừ và trách nhiệm quốc gia: Bành Quốc Tuấn (2010, 2014) khảo cứu học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối, miễn trừ tư pháp tương đối và đề xuất xây dựng Luật miễn trừ tư pháp; Lý Vân Anh (2012) nghiên cứu miễn trừ tư pháp của cơ quan đại diện ngoại giao; Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ (2010) trong sách chuyên khảo về tư pháp quốc tế đã phân tích cơ sở khởi kiện nhà nước và công nhận phán quyết trọng tài nước ngoài; các giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội (Trần Minh Ngọc và Vũ Thị Phương Lan, 2017; Lê Mai Anh, 2016) và Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Bá Diễn, 2013) tiếp cận ở mức độ nguyên tắc cơ bản về công pháp và tư pháp quốc tế.
- Về chuẩn mực đối xử và thiết chế tài phán: Vũ Thị Anh Thư (2014) chủ trì đề tài cấp cơ sở bàn về chuẩn mực đối xử công bằng và thỏa đáng (FET), học thuyết từ chối công lý và học thuyết Calvo; Đề án cấp Bộ của Bộ Tư pháp (2013) về quyền miễn trừ quốc gia; Đỗ Hoàng Tùng (2008) phân tích cơ chế ICSID qua vụ AGIP Co. kiện Congo; Nguyễn Minh Hằng (2012) và nhóm nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Lê Hải Triều (2016) nghiên cứu thẩm quyền và quy trình phản đối thẩm quyền theo Công ước ICSID.
- Về hiệp định đầu tư và quy trình phối hợp xử lý tranh chấp: Nguyễn Thu Hằng (2017), Hoàng Tiến Đạt (2017) phân tích ISDS trong TPP, EVFTA, VKFTA; Trần Anh Tuấn (2014, 2017) nghiên cứu vai trò của Bộ Tư pháp và quy trình phối hợp giải quyết tranh chấp theo cam kết quốc tế; Đỗ Viết Anh Thái (2012) giới thiệu tổng quan pháp luật Việt Nam về ISDS; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009) hệ thống hóa các BIT của Việt Nam; Bộ Tư pháp biên soạn hai Bộ tài liệu hướng dẫn chuyên sâu cho cơ quan trung ương và địa phương năm 2013 cùng chuỗi tài liệu tập huấn từ năm 2012 đến 2017.
Ở nước ngoài, cơ chế ISDS có lịch sử nghiên cứu lâu dài với hàng nghìn công trình:
- Về cơ sở lý luận: R. Doak Bishop và James E. (1999) phân tích học thuyết Calvo tại khu vực Mỹ Latinh; Craig Forcese (2005) nghiên cứu bảo hộ ngoại giao và tiêu chí quốc tịch hữu hiệu của nhà đầu tư có hai quốc tịch; Malcolm N. Shaw (2008) và Peter Malanczuk (1997) phân tích trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia; M. Sornarajah (2010) khảo cứu kiểm soát của nước tiếp nhận và giải quyết tranh chấp theo BIT, hợp đồng đầu tư.
- Về vận hành và cải cách thủ tục ISDS: Jarrod Hepburn (2014) nghiên cứu điều khoản nhà đầu tư tuân thủ pháp luật nước sở tại; Sachet Singh và Sooraj Sharma (2013) khảo cứu bất cập của ISDS, việc rút khỏi Công ước ICSID của Bolivia, Venezuela, Ecuador và quy định chỉ dùng tòa án nội địa trong hiệp định AUSFTA; Rudolf Dolzer (2005), Rudolf Dolzer và Margrete Stevens (1995) phân tích chuẩn mực FET và BIT; Christoph Schreuer (2004, 2009) bình luận toàn diện về Công ước ICSID; Scott Miller và Gregor N. Hicks (2015, CSIS/ICSID) thống kê xu hướng án lệ; David A. Gantz (2005, 2017) luận giải việc thiết lập cơ chế phúc thẩm phán quyết trọng tài; các báo cáo và tài liệu hướng dẫn của UNCTAD (1998, 2003, 2006, 2007, 2010, 2011 với bài học từ Peru, 2014) và Tổ chức OECD (2004, 2008, 2012).
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trong nước trước đây chủ yếu giới thiệu lý thuyết chung, thiếu sự cập nhật các văn bản mới như Luật Đầu tư 2014 (sửa đổi 2016), Luật Doanh nghiệp 2014, Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, và thiếu phân tích thực chứng các vụ tranh chấp của Việt Nam. Các nghiên cứu quốc tế chủ yếu mổ xẻ từng khía cạnh riêng lẻ, chưa có công trình hệ thống hóa toàn diện cơ chế ISDS đặt trong mối tương quan với lợi ích và điều kiện thực tiễn của các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Luận án được định vị là công trình nghiên cứu tổng thể, kết nối lý thuyết, quy phạm quốc tế với thực tiễn lập pháp và hành pháp tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung lý thuyết và các khái niệm pháp lý:
- Khái niệm tranh chấp ISDS: Được hiểu theo nghĩa hẹp là tranh chấp phát sinh giữa nhà nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài (thể nhân hoặc pháp nhân) liên quan đến khoản đầu tư hợp pháp trên lãnh thổ nước sở tại, dựa trên cơ sở điều ước quốc tế về đầu tư, hợp đồng đầu tư hoặc pháp luật quốc gia tiếp nhận đầu tư. Khái niệm "khoản đầu tư" được mở rộng qua các thời kỳ: từ trái phiếu chính phủ, tài sản đầu tư trực tiếp sang các quyền tài sản vô hình, cổ phần, quyền kinh doanh (theo BIT Pháp – Mexico năm 1998, Điều 8.1 Hiệp định CETA, Điều 9.1 Hiệp định TPP).
- Khái niệm cơ chế ISDS: Là hệ thống vận động phức tạp, chặt chẽ của các yếu tố, phương tiện, quy trình pháp lý nhằm giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài. Cơ chế mang tính chất lưỡng tính, kết hợp đặc điểm của tư pháp quốc tế (nhà nước từ bỏ miễn trừ tư pháp, quan hệ mang tính tài sản, áp dụng cả luật quốc gia) và công pháp quốc tế (nhà nước bị cáo buộc vi phạm điều ước quốc tế, thiết chế dựa trên điều ước quốc tế).
- Hệ thống các học thuyết pháp lý được tác giả sử dụng: Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia; Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối của quốc gia; Học thuyết về trách nhiệm của nhà nước đối với các hành vi trái pháp luật quốc tế; Học thuyết Calvo; Học thuyết từ chối công lý; Học thuyết "Quyền cảnh sát trị" của nhà nước (Police Powers doctrine); Học thuyết tính ảnh hưởng duy nhất (Sole Effect doctrine); Học thuyết quyền con người; Học thuyết hội nhập kinh tế quốc tế; Các học thuyết về áp dụng trực tiếp cam kết quốc tế.
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể gồm:
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu nguồn gốc và sự phát triển của cơ chế ISDS qua các thời kỳ.
- Phương pháp phân tích: Làm rõ nội hàm các khái niệm, học thuyết lý luận, văn bản pháp luật và các quy tắc tố tụng.
- Phương pháp tổng hợp: Liên kết các kết quả phân tích lý thuyết và thực tiễn để nhận diện quy luật, khuynh hướng vận động của ISDS.
- Phương pháp quy nạp: Rút ra các nhận định, kết luận chung từ việc nghiên cứu các vụ việc tranh chấp và án lệ quốc tế cụ thể.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia với pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phân tích cơ chế ISDS như một chỉnh thể đa tầng nấc gồm nhiều bên tham gia, nhiều quy tắc và thiết chế vận hành.
Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu:
- Điều ước quốc tế: Công ước Montevideo 1933, Công ước Washington 1965 (Công ước ICSID), các BIT thế hệ cũ và các hiệp định thế hệ mới (NAFTA, CETA, TPP, CPTPP, EVFTA, VKFTA, ACFTA, AANZEFTA).
- Án lệ trọng tài và tài liệu của các tổ chức quốc tế: Dữ liệu án lệ tại Trung tâm ICSID, Tòa Trọng tài Thường trực (PCA), Ủy ban Luật Thương mại Quốc tế của LHQ (UNCITRAL), các báo cáo của UNCTAD, OECD, WB, WTO.
- Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Đầu tư 2014 (sửa đổi 2016), Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Trọng tài thương mại 2010, Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg ngày 14/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ, các nghị quyết của Đảng (Nghị quyết 49-NQ/TW, Nghị quyết 22-NQ/TW, Nghị quyết 11-NQ/TW, Kết luận 92-KL/TW).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung của Luận án
Chương 1 tiến hành phân loại và đánh giá có hệ thống toàn bộ các công trình nghiên cứu về cơ chế ISDS ở trong nước và nước ngoài. Tác giả phân chia các công trình thành hai nhóm chính: nhóm nghiên cứu lý thuyết nền tảng (học thuyết miễn trừ tư pháp, trách nhiệm quốc gia, học thuyết Calvo, bảo hộ ngoại giao cho nhà đầu tư đa quốc tịch) và nhóm nghiên cứu cơ chế vận hành thực tế (các hiệp định BIT, FTA, quy tắc trọng tài ICSID, UNCITRAL, các báo cáo phòng ngừa tranh chấp của UNCTAD, OECD). Tác giả chỉ ra rằng các công trình tại Việt Nam còn mỏng, chủ yếu dừng ở mức phổ biến thông tin hoặc nghiên cứu phạm vi hẹp; các công trình nước ngoài tuy phong phú nhưng chưa giải quyết thấu đáo góc độ lợi ích của các nước đang phát triển. Chương này xác định rõ 4 nội dung đã được làm rõ và 4 vấn đề luận án tiếp tục tập trung nghiên cứu mới.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài
Chương 2 xây dựng khung lý luận về cơ chế ISDS. Tác giả định nghĩa bản chất tranh chấp đầu tư quốc tế và đối tượng tranh chấp là "khoản đầu tư", phân tích các định nghĩa cơ chế từ các từ điển chuyên ngành để đưa ra định nghĩa pháp lý hoàn chỉnh về cơ chế ISDS. Luận án phân tích tính chất đan xen giữa tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế trong cơ chế này. Tác giả đi sâu luận giải các bộ phận cấu thành cơ chế:
- Chủ thể tham gia: Nhà đầu tư nước ngoài (thể nhân với nguyên tắc quốc tịch hữu hiệu; pháp nhân với 3 tiêu chí xác định quốc tịch theo nơi thành lập, trụ sở quản lý hoặc nơi kinh doanh chính); Nhà nước tiếp nhận đầu tư (theo các tiêu chí của Công ước Montevideo 1933, tham gia với tư cách bình đẳng do đã từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp); các chủ thể bổ trợ (luật sư, chuyên gia, nhân chứng); Thiết chế tài phán (tòa án, trọng tài quốc gia, trọng tài quốc tế).
- Hệ thống quy tắc điều chỉnh: Pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia và các quy tắc tố tụng trọng tài.
- Quy trình vận hành: Giai đoạn tiền tố tụng (tham vấn, thương lượng từ 3 đến 6 tháng dựa trên thông báo ý định khởi kiện) và giai đoạn tố tụng chính thức tại cơ quan tài phán.
- Phân tích 10 học thuyết lý luận pháp lý liên quan và đánh giá mức độ áp dụng thực tế của chúng trong việc điều chỉnh quan hệ ISDS.
Chương 3: Thực trạng pháp luật quốc tế về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài
Chương 3 tập trung phân tích thực trạng các quy định pháp luật quốc tế điều chỉnh cơ chế ISDS. Nội dung bao gồm việc xác định cơ sở pháp lý khởi kiện, các phương thức giải quyết tranh chấp (tham vấn, thương lượng, hòa giải, tòa án nước sở tại, trọng tài quốc tế), luật áp dụng, địa điểm, ngôn ngữ và phân bổ chi phí tố tụng. Luận án tổng hợp các cam kết của Việt Nam trong hệ thống các BIT và FTA qua các thời kỳ, chỉ ra các điểm tồn tại, hạn chế của pháp luật quốc tế như tính thiếu nhất quán trong phán quyết của trọng tài, chi phí tố tụng cao, và nguy cơ bị lạm dụng quyền khởi kiện. Đồng thời, chương này phân tích các xu hướng cải cách ISDS trong các điều ước quốc tế thế hệ mới:
- Sự hình thành Tòa trọng tài đầu tư thường trực (Investment Court System - ICS) và cơ chế phúc thẩm (Appellate Mechanism) trong các hiệp định như CETA và EVFTA;
- Cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải phi tài phán và mô hình Tòa án thương mại quốc tế (SICC của Singapore);
- Xu hướng điều chỉnh phạm vi khởi kiện, loại bỏ quyền khởi kiện đối với các cam kết tiền đầu tư (như việc sửa đổi từ TPP sang CPTPP).
Chương 4: Kinh nghiệm nước ngoài, pháp luật Việt Nam và các giải pháp hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước với nhà đầu tư nước ngoài
Chương 4 nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia trong việc quản lý và phòng ngừa tranh chấp ISDS (kinh nghiệm xây dựng cơ chế phối hợp và phòng ngừa của Peru, mô hình Văn phòng Thanh tra/Hỗ trợ đầu tư nước ngoài OFIO của Hàn Quốc, chính sách của Hoa Kỳ, cùng bài học rút khỏi ICSID của Bolivia, Venezuela, Ecuador). Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn của Việt Nam: phân tích gần 10 vụ kiện quốc tế mà nhà nước Việt Nam đã đối mặt tính đến tháng 7/2018, rà soát các văn bản pháp luật liên quan (Luật Đầu tư 2014/2016, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Trọng tài thương mại 2010, Quyết định 04/2014/QĐ-TTg) và chỉ ra các hạn chế trong cơ chế phối hợp liên ngành cũng như năng lực chuyên môn của cán bộ địa phương. Từ kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất hệ thống giải pháp:
- Hoàn thiện cam kết quốc tế: Rà soát, chuẩn hóa các điều ước quốc tế về đầu tư, xây dựng mẫu hiệp định đầu tư song phương (Model BIT) bảo đảm cân bằng quyền quản lý của nhà nước, nghiên cứu cơ sở gia nhập Công ước ICSID;
- Định hướng trọng tài khu vực: Khuyến khích cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài sử dụng các trung tâm trọng tài quốc tế thuộc khu vực ASEAN và châu Á để giảm thiểu chi phí và rào cản ngôn ngữ, văn hóa;
- Hoàn thiện pháp luật và thể chế trong nước: Nâng cấp khung pháp lý phòng ngừa và xử lý tranh chấp ISDS, ban hành quy chế phối hợp liên ngành có hiệu lực pháp lý cao hơn;
- Tăng cường năng lực thực thi: Nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng tố tụng quốc tế cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý và xử lý tranh chấp đầu tư.
Kết quả và những đóng góp mới
Các đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn được luận án xác định:
- Về mặt lý luận:
- Xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh, làm rõ bản chất pháp lý lưỡng tính (đan xen giữa công pháp và tư pháp quốc tế) và nguyên lý vận hành của cơ chế ISDS.
- Phân tích, hệ thống hóa mối quan hệ trực tiếp giữa các học thuyết pháp lý mới (Học thuyết trách nhiệm của nhà nước đối với hành vi trái pháp luật quốc tế, Học thuyết "Quyền cảnh sát trị", Học thuyết tính ảnh hưởng duy nhất, Học thuyết quyền con người, Học thuyết hội nhập kinh tế) với việc khởi xướng và vận hành trên thực tế của cơ chế ISDS.
- Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Đánh giá và khái quát hóa các mô hình cơ chế ISDS trong pháp luật quốc tế từ truyền thống đến hiện đại (Tòa trọng tài thường trực, cơ chế phúc thẩm, hòa giải ngoài tài phán, Tòa án thương mại quốc tế Singapore SICC) và nhận diện xu hướng vận động của chúng.
- Tổng kết toàn diện thực tiễn tham gia ISDS của Việt Nam, so sánh có hệ thống với chuẩn mực quốc tế, chỉ ra khoảng cách pháp lý và các điểm bất cập trong quản trị đầu tư nước ngoài tại các bộ, ngành và địa phương.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ: hoàn thiện các cam kết quốc tế, xây dựng Model BIT, nghiên cứu lộ trình gia nhập Công ước ICSID, nâng cấp quy chế phối hợp nội bộ của Việt Nam trong giải quyết tranh chấp ISDS và khuyến nghị định hướng sử dụng thiết chế trọng tài khu vực ASEAN, châu Á đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu thực tiễn pháp luật và số liệu các vụ việc phát sinh tại Việt Nam và quốc tế tính đến thời điểm hoàn thành công trình (năm 2018); một số vụ việc thực tế tại thời điểm nghiên cứu chưa được công bố công khai toàn bộ hồ sơ do tính bảo mật của thủ tục tố tụng trọng tài quốc tế; phạm vi khảo cứu kinh nghiệm nước ngoài chỉ giới hạn ở một số quốc gia đại diện tiêu biểu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Theo dõi, đánh giá sự vận hành thực tế của các thiết chế giải quyết tranh chấp mới (như cơ chế Tòa án đầu tư ICS) khi các hiệp định thế hệ mới như EVFTA, CPTPP đi vào thực thi giai đoạn tiếp theo;
- Nghiên cứu các điều kiện pháp lý và đánh giá tác động cụ thể khi Việt Nam chính thức chuẩn bị các thủ tục gia nhập Công ước ICSID;
- Mở rộng nghiên cứu thực tiễn tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tại các thị trường mới nổi.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và nhà làm chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ rà soát, đàm phán các hiệp định đầu tư quốc tế, xây dựng mẫu BIT của Việt Nam, hoàn thiện quy chế phối hợp liên ngành theo hướng nâng cao hiệu lực pháp lý và thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tranh chấp.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên luật: Là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về luật đầu tư quốc tế, tư pháp quốc tế, công pháp quốc tế, cung cấp hệ thống học thuyết, quy tắc tố tụng và án lệ giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư.
- Đối với cộng đồng doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Cung cấp các phân tích về quyền và nghĩa vụ pháp lý của nhà đầu tư, tiêu chí quốc tịch hữu hiệu, cách thức vận hành của các thiết chế tài phán quốc tế và định hướng điều khoản lựa chọn trọng tài khu vực ASEAN/châu Á khi đầu tư ra nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
-
Câu 1: Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS) mang những đặc điểm cơ bản nào?
- Trả lời: Theo luận án, cơ chế ISDS mang đặc tính lưỡng tính kết hợp giữa tư pháp quốc tế và công pháp quốc tế. Về mặt tư pháp quốc tế, nhà nước khi tham gia ISDS được "tư hóa" do đã từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp, quan hệ giải quyết tranh chấp mang tính chất tài sản dân sự và áp dụng cả pháp luật quốc gia. Về mặt công pháp quốc tế, bên bị khởi kiện là nhà nước bị cáo buộc vi phạm điều ước quốc tế về đầu tư, và thẩm quyền của thiết chế tài phán được xác lập chủ yếu dựa trên các cam kết quốc tế.
-
Câu 2: Khái niệm "khoản đầu tư" được bảo hộ trong cơ chế ISDS đã phát triển như thế nào qua các giai đoạn?
- Trả lời: Luận án chỉ ra rằng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, khoản đầu tư chủ yếu là trái phiếu chính phủ; sau Chiến tranh thế giới thứ II chuyển sang dạng tài sản đầu tư trực tiếp; từ cuối thế kỷ XX trở lại đây, khái niệm này được mở rộng bao gồm tiền, tài sản, cổ phần, vốn góp, quyền tài sản, quyền kinh doanh hoặc lợi ích vật chất (như quy định tại BIT Pháp - Mexico 1998, CETA 2016). Tuy nhiên, đến hiệp định CPTPP, quyền khởi kiện đối với các cam kết, thỏa thuận trước đầu tư ghi nhận trong TPP trước đây đã bị bãi bỏ.
-
Câu 3: Thực trạng các vụ việc khởi kiện nhà nước Việt Nam theo cơ chế ISDS tính đến tháng 7/2018 được luận án ghi nhận ra sao?
- Trả lời: Luận án ghi nhận tính đến tháng 7/2018, đã có gần 10 vụ nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện nhà nước Việt Nam ra trọng tài quốc tế với mức yêu cầu bồi thường từ hàng triệu đến hàng tỷ USD. Bên cạnh đó, có nhiều vụ việc nhà đầu tư nước ngoài gửi thông báo ý định khởi kiện nhà nước hoặc kiện các bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nguy cơ chuyển hóa thành vụ kiện ISDS quốc tế.
-
Câu 4: Luận án đưa ra những giải pháp chủ yếu nào nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cơ chế ISDS?
- Trả lời: Tác giả đề xuất xây dựng khung pháp luật toàn diện về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp; rà soát và nâng cấp Quy chế phối hợp theo Quyết định số 04/2014/QĐ-TTg; nghiên cứu chuẩn bị cơ sở pháp lý gia nhập Công ước ICSID; mẫu hóa các cam kết ISDS trong các điều ước quốc tế; tăng cường đào tạo chuyên sâu về kỹ năng giải quyết tranh chấp cho cán bộ trung ương và địa phương.
-
Câu 5: Tác giả luận án khuyến nghị gì đối với các nhà đầu tư Việt Nam khi thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài?
- Trả lời: Tác giả khuyến nghị các cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam khi ký hợp đồng đầu tư quốc tế với chính phủ nước ngoài nên ưu tiên lựa chọn các quy tắc và trung tâm trọng tài quốc tế trong khu vực ASEAN và châu Á để tận dụng sự thuận lợi về địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, giúp giảm thiểu chi phí luật sư, trọng tài và phòng tránh rủi ro pháp lý.
Kết luận
Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Anh Tuấn là công trình nghiên cứu hệ thống về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế giữa nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài (ISDS) trên cả phương diện lý luận, pháp luật quốc tế và thực tiễn Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ bản chất lưỡng tính, các học thuyết nền tảng và xu hướng cải cách của cơ chế ISDS trong bối cảnh toàn cầu hóa. Trên cơ sở tổng kết thực trạng gần 10 vụ kiện quốc tế nhằm vào Việt Nam tính đến năm 2018 và rà soát hệ thống quy định hiện hành, công trình đã đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực phòng ngừa và giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.