Chương 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU NHỮNG VAN DE LIEN QUAN DEN NOI DUNG CUA LUAN AN 1. Tình hình nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nha nước và nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Mặc dù cơ chế ISDS được ghi nhận ngay trong các điều ước quốc tế về đầu tư thế hệ đầu mà Việt Nam ký với các quốc gia khác vào những năm 90 của thế kỷ XX, tuy nhiên, nghiên cứu cơ chế ISDS lại khá muộn ở Việt Nam, chỉ thực sự bắt đầu trong khoảng 06 năm trở lại đây, khi mà Việt Nam phải đối mặt với nhiều vụ việc ISDS. Do đó, cho đến nay, số lượng các nghiên cứu về cơ chế ISDS ở Việt Nam chỉ khoảng dưới 60 bài viết, công trình, trong đó chưa đến 30 công trình thực sự mang tính chất là công trình nghiên cứu. Một số nghiên cứu về lý thuyết liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà dau tư nước ngoài Nghiên cứu về lý thuyết liên quan đến cơ chế ISDS có thể liệt kê một số công trình tiêu biéu sau đây: 1.
Các bài viết trên các tạp chí khoa học Các bài viết trên tạp chí khoa học về những học thuyết liên quan đến cơ chế ISDS có Bài: “Những cơ sở đề xuất Luật miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp của quốc gia nước ngoài tại Việt Nam” của ThS. Banh Quốc Tuan đăng năm 2014 trên Tạp chí Phát triển KH&CN tập 17 (Q4), từ trang 111 đến trang 132 và Bài: “Vấn đề miễn trừ tư pháp của Cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoải” của ThS. Lý Vân Anh đăng năm 2012 trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế tập 88 (1), từ trang 247 đến trang 268. Trong hai Bài viết nêu trên, Bài viết của ThS.
Banh Quốc Tuan giới thiệu chung về Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia (sau đây gọi là Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối), Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối của quốc gia (sau đây gọi là Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối) và quá trình thừa nhận Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối ở một số quốc gia; đồng thời, Bài viết cũng đê cập nội dung của Công ước của Liên hợp quôc (LHQ) vê miên trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia năm 2004. Đặc biệt, tác giả Bành Quốc Tuấn có đề xuất xây dựng Luật miễn trừ trong lĩnh vực tư pháp của quốc gia nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung về Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối và Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối không được nêu, phân tích chỉ tiết trong Bài viết này. Liên quan đến Bài viết của Th§.
Ly Van Anh cũng phân tích về van đề miễn trừ tư pháp, việc thê hiện trong các điều ước quốc tế liên quan và áp dụng của một số quốc gia nhưng các nội dung này của Bài viết lại gắn với việc miễn trừ tư pháp của cơ quan đại diện ngoại giao, mà không liên quan trực tiếp tới cơ chế ISDS. Các dé tài, dé án khoa hoc Tiêu biểu cho loại hình nghiên cứu này, có Đề tài nghiên cứu khoa học cap cơ sở của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, mã số CS.12: “Co sở lý luận và thực tiễn áp dụng các chuẩn mực đối xử công bằng và thỏa đáng trong các hiệp định đầu tư quốc tế của Việt Nam” thực hiện năm 2014 do ThS. Vũ Thị Anh Thư chủ trì cũng đề cập một số học thuyết, như: Học thuyết từ chối công lý, Học thuyết trách nhiệm pháp lý của quốc gia đối với các thiệt hại của công dân nước ngoài, Học thuyết Calvo. Tuy nhiên, Công trình này mới dừng lại ở việc nêu một vài khía cạnh của các học thuyết này trong mối liên hệ với nguyên tắc đối xử công bang và thỏa đáng trong dau tư quốc tế.
Bên cạnh đó, năm 2013, Bộ Tư pháp xây dựng Đề án cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế”, trong đó giới thiệu Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối, Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối và việc áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Đề án này cũng có nội dung về thực tiễn áp dụng Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối trong tư pháp quốc tế của Việt Nam và các quốc gia khác, như: Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc. Tuy nhiên, Đề án chưa làm rõ được mối quan hệ giữa các học thuyết nêu trên với việc khởi kiện nhà nước của cá nhân, tổ chức tư về tranh chấp thương mại, đầu tư. Ngoài ra, Dé án cũng không giải quyết thỏa đáng nội dung liên quan đến việc áp dụng các học thuyết miễn trừ tư pháp tại Việt Nam.
Sách chuyên khảo và giáo trình Sách chuyên khảo có đề cập Học thuyết miễn trừ tư pháp tuyệt đối và Học thuyết miễn trừ tư pháp tương đối là Cuốn sách: “Tư pháp quốc tế Việt Nam: Quan hệ dân sự, lao động, thương mại có yêu tố nước ngoài” của TS. Đỗ Văn Dai va PGS. Mai Hồng Quỳ do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (Hà Nội) xuất bản năm 2010. Trong Cuốn sách này, nội dung của Hai học thuyết nêu trên cũng như cơ sở lý thuyết cho việc khởi kiện nhà nước của cá nhân, tô chức tư nhân được nêu từ trang 156 đến trang 163 và công nhận, cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng được phân tích từ trang 254 đến trang 260.
Mặc dù vậy, cơ sở lý thuyết của cơ chế ISDS và thi hành phán quyết ISDS còn nêu rất khái quát, chưa cụ thê. Bên cạnh đó, hiện nay một SỐ giáo trình của các cơ sở đào tạo luật cũng có những nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết áp dụng cho giải quyết tranh chấp giữa nhà nước với cá nhân, tô chức tư của nước ngoài, tiêu biểu là: Thứ nhất, “Giáo trình tư pháp quốc tế” của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Trần Minh Ngọc và TS. Vũ Thị Phương Lan đồng chủ biên, Nhà xuất bản Tư pháp (Hà Nội) xuất bản năm 2017.
Trong Giáo trình này, từ trang 27 đến trang 28 bàn về nguyên tắc miễn trừ quốc gia trong tư pháp quốc tế, từ trang 197 đến trang 208 đề cập nội dung công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, từ trang 212 đến trang 249 xem xét về trọng tài quốc tế và từ trang 269 đến trang 275 phân tích quyền sở hữu của người nước ngoài tại Việt Nam. Những nội dung này có liên quan mật thiết đến cơ chế ISDS nhưng chỉ được đề cập chung với tính chất nêu những vấn đề cơ bản của tư pháp quốc tế. Trường Dai học Luật Hà Nội còn có “Giáo trình Luật quốc tế” do TS. Lê Mai Anh chủ biên được xuất bản năm 2016 tại Nhà xuất bản Công an nhân dân (Hà Nội), trong đó Chương XX bàn về trách nhiệm pháp lý quốc tế của quốc gia.
Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý được phân tích ở Chương XX của Giáo trình chủ yếu đặt trong mối quan hệ giữa quốc gia và quốc gia mà không có nội dung trách nhiệm pháp lý quốc tế giữa nhà nước với cá nhân, tô chức tư của nước ngoài (bao gồm cả nhà đâu tư nước ngoài); 10 Thứ hai, “Giáo trình tư pháp quốc tế”, “Giáo trình công pháp quốc tế” của Đại học Quốc gia Hà Nội cùng được Nhà xuất bản thuộc Đại học này ấn hành năm 2013 và đều do PGS. Nguyễn Bá Diễn chủ biên đề cập một số nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết áp dụng cho giải quyết tranh chấp giữa nhà nước với cá nhân, tổ chức tư, theo đó: - Trong “Giáo trình Tư pháp quốc tế”, tại Chương XIV, Chương XV đề cập nguyên tắc miễn trừ tư pháp quốc gia, giải quyết vụ việc dân sự, thương mại, đầu tư quốc tế tại tòa án quốc gia, trọng tài quốc tế và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài nhưng không có nội dung chuyên sâu, găn kết trực tiếp đến cơ chế ISDS; - Đối với “Giáo trình Công pháp quốc tế” có nội dung khá toàn diện những van đề thuộc công pháp quốc tế, trong đó có Công ước về trách nhiệm nhà nước đối với các hành vi trái PLQT, đặc biệt là nguyên tắc xác định chủ thé, yếu tố lỗi đối với hành vi trái PLQT của nhà nước. Tuy nhiên, do là giáo trình công pháp quốc tế nên không đề cập việc áp dụng những tư tưởng về trách nhiệm của nhà nước được thê hiện ở Công ước này trong ISDS. Các nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà nước và nhà dau tw nước ngoài Nghiên cứu cơ chế ISDS và việc vận hành của nó, cho đến nay có một số nghiên cứu tiêu biểu sau: 1.
Các bài viết trên tạp chí khoa học Tại số Chuyên đề Hội nhập quốc tế về pháp luật năm 2017 của Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có Bài viết của ThS. Nguyễn Thu Hang bàn về: “Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà nước Việt Nam theo các hiệp định thương mại tự do, hiệp định kinh tế thế hệ mới” và Bài của ThS. Hoàng Tiến Đạt: “Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — Liên minh châu Âu: Cơ hội và thách thức cho Việt Nam”. Trong hai Bài viết trên, các phương thức ISDS của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — Hàn Quốc (Free Trade Agreement between the Government of the Socialist Republic of Vietnam and the Government of the Republic of Korea - VKFTA), Hiép 11 định đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - TPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam — Liên minh châu Âu (Free Trade Agreement between the European Union and the Socialist Republic of Vietnam - EVFTA) được giới thiệu khái quát.
Mac dù vậy, hai Bài viết này không phân tích đầy đủ các nội dung liên quan đến cơ chế ISDS. Cũng trong số Chuyên đề này còn đăng Bài viết: “Pháp luật về phối hợp trong giải quyết tranh chấp giữa Chính phủ Việt Nam và nhà đầu tư nước ngoài tại trọng tài quốc tế” của ThS. Trần Anh Tuấn chỉ gồm nội dung về phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân của phía nhà nước Việt Nam trong tham gia ISDS, mà không phản ánh đầy đủ về việc vận hành của các bên tham gia cơ chế ISDS tại trọng tài quốc tế.