Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Nghị quyết xác định định hướng giáo dục phổ thông chuyển dịch mạnh mẽ từ truyền thụ kiến thức thụ động sang phát triển phẩm chất, năng lực, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu của học sinh, lấy người học làm trung tâm.
Trong thực tiễn giáo dục tiểu học truyền thống, việc đánh giá trí thông minh thường bị đồng nhất với chỉ số IQ hoặc thiên hướng tư duy toán học logic. Môn Toán lớp 3 là môn học chiếm thời lượng lớn trong chương trình nhưng ghi nhận thực trạng phân hóa rõ rệt: nhiều học sinh gặp khó khăn, hình thành tâm lý e ngại môn Toán dù học tốt các môn nghệ thuật, xã hội; ngược lại, một số học sinh có năng khiếu toán học lại gặp hạn chế về kỹ năng giao tiếp và khoa học xã hội. Nhằm giải quyết sự thiếu cân bằng này, tác giả đã lựa chọn đề tài "Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp 3" nhằm cá nhân hóa quá trình học tập, khai phóng các tiềm năng trí tuệ ẩn giấu và phát triển năng lực toàn diện cho học sinh tiểu học.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:
- Đưa ra một số biện pháp sư phạm nhằm vận dụng thuyết đa trí tuệ vào quá trình dạy học môn Toán lớp 3.
- Thiết kế một số kế hoạch bài dạy theo định hướng đa trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả tiếp thu kiến thức và phát triển năng lực của học sinh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay và các biện pháp thực hiện.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của thuyết đa trí tuệ (Multiple Intelligences - MI).
- Đề xuất hệ thống nguyên tắc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học tiểu học.
- Xây dựng các biện pháp sư phạm cụ thể để vận dụng thuyết đa trí tuệ vào chương trình Toán lớp 3.
- Thực hiện thực nghiệm sư phạm để bước đầu đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Toán theo định hướng phát huy tính đa trí tuệ của học sinh tiểu học.
- Phạm vi nội dung: Chương trình môn Toán lớp 3 hiện hành.
- Phạm vi không gian thực nghiệm và khảo sát: Trường Tiểu học Hùng Vương và Trường Tiểu học Phong Châu (Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết nền tảng của công trình dựa trên Thuyết đa trí tuệ do Giáo sư Howard Gardner công bố năm 1983 trong tác phẩm Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences. Tác giả phân tích tiến trình lịch sử quan niệm về trí tuệ: từ thời kỳ quan niệm phi chuyên môn cổ đại (Augustine of Hippo, Pythagoras, Plato), giai đoạn đo nghiệm tâm lý tiêu chuẩn với sự ra đời của chỉ số trắc nghiệm IQ (Francis Galton, Alfred Binet, bài trắc nghiệm Stanford - Binet của Lewis Terman năm 1917, các quan điểm phản biện của Jean Piaget), đến quan niệm đa nguyên phân loại cấu trúc trí tuệ (Charles Spearman, J.P. Guilford). Học thuyết của Gardner xác định trí thông minh là năng lực giải quyết vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm có giá trị trong một bối cảnh văn hóa nhất định, bao gồm 8 loại hình trí tuệ độc lập tương đối:
- Trí tuệ Lôgic - Toán học
- Trí tuệ Ngôn ngữ
- Trí tuệ Không gian
- Trí tuệ Thể chất (Vận động cơ thể)
- Trí tuệ Âm nhạc
- Trí tuệ Giao tiếp
- Trí tuệ Nội tâm
- Trí tuệ Tự nhiên học
Công trình cũng kết hợp khung lý thuyết về đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực, thuyết kiến tạo trong tâm lý học giáo dục, và định hướng chuyển dịch vai trò người giáo viên sang vị trí người thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa quá trình nhận thức.
Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp văn kiện của Đảng (Nghị quyết 29-NQ/TW), chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo; nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa môn Toán tiểu học; khảo cứu tài liệu chuyên khảo về thuyết đa trí tuệ trong nước và quốc tế (cuốn sách dịch Đa trí tuệ trong lớp học của Lê Quang Long xuất bản năm 2011; các công trình của Trần Khánh Đức, Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy, Võ Thanh Hà).
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng anket đối với cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học.
- Phương pháp quan sát sư phạm thông qua dự giờ, theo dõi phản ứng và hành vi học tập của học sinh.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm và học sinh.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm sư phạm từ thực tế giảng dạy.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng để kiểm chứng giả thuyết sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu điều tra thực trạng và kết quả kiểm tra học tập ở nhóm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết tổng thể về phương pháp dạy học hiện đại và học thuyết đa trí tuệ, đồng thời đánh giá thực trạng ứng dụng tại địa bàn nghiên cứu.
1. Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực:
Tác giả nêu rõ 4 đặc trưng cốt lõi của đổi mới dạy học: tổ chức hoạt động để học sinh tự khám phá; rèn luyện tri thức phương pháp và thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa); phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác; đổi mới kiểm tra đánh giá quá trình. Đồng thời, chương 1 xác định vai trò mới của người thầy qua 4 chức năng: thiết kế kế hoạch dạy học, ủy thác nhiệm vụ, điều khiển hoạt động và thể chế hóa tri thức khoa học.
2. Cơ sở lý luận và các điểm mấu chốt của Thuyết đa trí tuệ:
Tác giả phân tích các luận cứ sinh học - thần kinh học mà Gardner sử dụng để chứng minh sự tồn tại của 8 loại hình trí tuệ:
- Căn cứ sinh học não bộ: Tổn thương thùy trước trán bán cầu não trái làm suy giảm trí tuệ ngôn ngữ nhưng không làm mất khả năng hát, vẽ hay vận động; tổn thương thùy thái dương phải ảnh hưởng đến cảm thụ âm nhạc; tổn thương thùy chẩm phải làm giảm khả năng nhận diện hình ảnh trực quan.
- Chu kỳ phát triển: Trí tuệ logic - toán học xuất hiện muộn hơn trong thời thơ ấu, đạt đỉnh cao thời thanh niên (dẫn chứng Blaise Pascal, Évariste Galois, Albert Einstein khám phá nền tảng thuyết tương đối năm 16 tuổi) và có quy luật suy giảm riêng.
- Năm điểm mấu chốt của thuyết MI: Mỗi cá nhân đều sở hữu đủ cả 8 loại trí tuệ; hầu hết mọi người đều có thể phát triển từng loại trí tuệ đến mức độ thích đáng nếu được tạo điều kiện (dẫn chứng mô hình giáo dục tài năng âm nhạc Suzuki); các trí tuệ luôn vận hành phối hợp phức tạp trong thực tế (ví dụ hoạt động chơi đá bóng kết hợp vận động, không gian, ngôn ngữ và giao tiếp); có nhiều cách biểu lộ trong từng lĩnh vực; cấu trúc thuyết mở cho các dạng trí tuệ mới.
| Loại hình trí tuệ |
Biểu hiện đặc trưng của học sinh tiểu học |
| Ngôn ngữ |
Nhớ tốt từ ngữ, viết lách tốt, thích kể chuyện, học tốt các môn xã hội, thích đọc sách. |
| Lôgic - Toán học |
Tính nhẩm tốt, thích làm việc với con số, hay đặt câu hỏi suy luận, thích chơi cờ và đố vui. |
| Không gian |
Tiếp thu tốt qua hình vẽ, sơ đồ, thích vẽ vời, có khả năng tưởng tượng hình học 3D. |
| Hình thể - Động năng |
Hiếu động, nhớ lâu khi được thao tác trực tiếp, khéo tay trong làm mô hình, thủ công. |
| Âm nhạc |
Nhạy bén với nhịp điệu, âm thanh, thích ca hát, gõ nhịp khi học tập, có trí nhớ giai điệu. |
| Giao tiếp |
Thích làm việc nhóm, dễ kết bạn, biết lắng nghe, có khả năng lôi cuốn và hòa giải. |
| Nội tâm |
Độc lập, tự giác, có ý thức rõ về điểm mạnh/yếu của bản thân, thích làm việc độc lập. |
| Tự nhiên học |
Thích tìm hiểu sinh vật, nhạy cảm với thiên nhiên, thích hoạt động dã ngoại, trồng cây. |
3. Phương pháp tiếp cận và nhận diện đa trí tuệ ở học sinh:
Giáo viên có thể nhận biết thiên hướng trí tuệ thông qua quan sát hành vi tự phát (khi rảnh rỗi hoặc hành động mất trật tự trên lớp), sưu tập hồ sơ sản phẩm (bản vẽ, đoạn ghi âm, sản phẩm thủ công), nghiên cứu học bạ, trao đổi với giáo viên bộ môn và phỏng vấn phụ huynh học sinh.
4. Thực trạng vận dụng tại các trường tiểu học khảo sát:
Khảo sát tại Trường Tiểu học Hùng Vương và Trường Tiểu học Phong Châu (TX. Phú Thọ) cho thấy:
- Thuyết đa trí tuệ đã bước đầu được biết đến qua tài liệu đổi mới phương pháp, tuy nhiên mức độ triển khai chưa đồng đều.
- Giáo viên còn lúng túng, chưa xây dựng được giáo án tích hợp phát triển đồng bộ 8 loại hình trí tuệ mà vẫn tập trung chủ yếu vào trí tuệ logic - toán học.
- Khó khăn chính gồm: Giáo viên chưa được tập huấn chuyên sâu về thuyết MI, hạn chế về cơ sở vật chất và trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ dạy học trực quan.
Chương 2: Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học Toán lớp 3
Chương 2 trình bày hệ thống nguyên tắc sư phạm và 5 biện pháp dạy học môn Toán lớp 3 được thiết kế theo hướng phát huy đa trí tuệ.
1. Hệ thống ba nguyên tắc vận dụng:
- Nguyên tắc 1: Quán triệt quan điểm dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học. Đảm bảo học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên, kết hợp đa dạng các hình thức học cá nhân và cộng tác nhóm.
- Nguyên tắc 2: Đảm bảo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học. Lấy học sinh làm trung tâm, kích thích cùng lúc nhiều loại hình trí tuệ, đánh thức các tiềm năng nhận thức còn ẩn giấu.
- Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính khả thi. Kế hoạch bài dạy phải phù hợp với chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình môn Toán lớp 3, tương thích với điều kiện cơ sở vật chất thực tế của nhà trường phổ thông.
2. Năm biện pháp sư phạm cụ thể:
Biện pháp 1: Mở rộng hướng tiếp cận kiến thức mới cho học sinh.
Tác giả đề xuất đa dạng hóa con đường dẫn dắt vào bài học để khơi gợi hứng thú cho các nhóm học sinh có phong cách học tập khác nhau:
- Tiếp cận nội bộ toán học bằng trò chơi thao tác: Dùng trò chơi "chia que tính" theo cặp đôi để tiếp cận khái niệm "giảm đi một số lần" (phát triển trí tuệ vận động, logic); trò chơi "Ai cao hơn ai" đo chiều cao nhóm để tiếp cận "số liệu thống kê" (phát triển trí tuệ giao tiếp, vận động, logic).
- Tiếp cận liên hệ thực tiễn: Bài toán tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật nhà bác Liên có kích thước 6m và 4m để tính lượng dây rào (kích hoạt trí tuệ không gian, logic); hoạt động thực hành cân chai nước, quyển sách, cái cặp để hình thành đơn vị đo "gam" (kích hoạt trí tuệ vận động, thực hành).
- Tiếp cận liên môn nghệ thuật: Trò chơi "Bé tập vẽ kim đồng hồ" tích hợp màu sắc (giờ chẵn vẽ kim màu đỏ, giờ lẻ có 15 phút vẽ màu xanh lá cây, 30 phút vẽ màu vàng, 40 phút vẽ màu đen) giúp củng cố kỹ năng xem giờ và phát triển trí tuệ không gian.
- Tiếp cận bằng lịch sử toán học: Giới thiệu nguồn gốc hệ thống chữ số La Mã cổ đại từ chữ số Etruria và ứng dụng trong mặt đồng hồ, mục lục sách, các kỳ Thế vận hội Olympic.
- Tiếp cận bằng kể chuyện và giáo dục giá trị: Sử dụng mẩu chuyện nhà toán học Ơclit chia táo để gợi mở tư duy logic và tạo không khí cởi mở; sử dụng truyện ngụ ngôn "Kiến, Dế và Chim" để giáo dục ý thức trách nhiệm (tác động đến trí tuệ nội tâm).
Biện pháp 2: Chuyển đổi kiến thức toán học dưới nhiều hình thức khác nhau.
Chuyển đổi một đơn vị kiến thức toán học trừu tượng sang ba hình thức biểu diễn tương ứng với các loại hình trí tuệ:
| Nội dung toán học |
Dạng lời văn (Trí tuệ Ngôn ngữ) |
Dạng ký hiệu (Trí tuệ Lôgic - Toán) |
Dạng hình ảnh (Trí tuệ Không gian) |
| Chu vi hình chữ nhật |
Muốn tính chu vi hình chữ nhật ta lấy chiều dài cộng với chiều rộng (cùng đơn vị đo) rồi nhân với 2. |
$(a + b) \times 2$ |
Sơ đồ trực quan biểu diễn kích thước các cạnh $a$ và $b$. |
| Trung điểm đoạn thẳng |
Điểm M được gọi là trung điểm của đoạn thẳng AB khi và chỉ khi M nằm giữa A, B và cách đều 2 điểm A, B. |
$AM = MB = \frac{AB}{2}$ ($M$ nằm giữa $A$ và $B$) |
Đoạn thẳng $AB$ có điểm $M$ chia đôi thành 2 đoạn bằng nhau. |
Biện pháp 3: Tổ chức đa dạng các hoạt động học tập cho học sinh.
Phối hợp linh hoạt giữa hoạt động nhóm (phát triển trí tuệ giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác) và hoạt động tự học độc lập (rèn luyện trí tuệ nội tâm). Ví dụ trong bài thực hành xác định trung điểm của đoạn thẳng $AB = 6\text{ cm}$, giáo viên tổ chức cho học sinh tự tìm kiếm nhiều giải pháp thực hiện dựa trên các đồ dùng tự chuẩn bị: dùng thước kẻ chia vạch, dùng compa, gấp băng giấy hoặc sử dụng dây mềm.
Biện pháp 4: Sử dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học.
Hệ thống hóa các mối quan hệ logic của các công thức, quy tắc tính toán bằng cấu trúc nhánh, hình vẽ và màu sắc trực quan, giúp học sinh có trí tuệ không gian và ngôn ngữ dễ dàng ghi nhớ.
Biện pháp 5: Sử dụng đa dạng các phương tiện dạy học.
Kết hợp thiết bị dạy học tối thiểu, đồ dùng dạy học tự làm và ứng dụng công nghệ thông tin (bài giảng điện tử, video mô phỏng) nhằm kích thích đa giác quan của người học.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính của nghiên cứu:
- Hệ thống hóa thành công 8 dạng trí tuệ theo lý thuyết của Howard Gardner gắn với các dấu hiệu nhận diện hành vi cụ thể của học sinh tiểu học trong môi trường lớp học.
- Xác lập bảng đối chiếu phương thức tiếp thu kiến thức tương ứng với từng loại hình trí tuệ: ngôn ngữ học qua lời nói/văn bản; logic - toán học qua suy luận/sơ đồ; không gian qua tranh vẽ/hình ảnh; hình thể động năng qua vận động thao tác; âm nhạc qua âm thanh/nhịp điệu; giao tiếp qua trao đổi nhóm; nội tâm qua suy ngẫm cá nhân; tự nhiên học qua thế giới thực vật/động vật.
- Xây dựng hoàn chỉnh 5 nhóm biện pháp sư phạm có kèm giáo án minh họa chi tiết cho các chủ đề trọng tâm của môn Toán lớp 3 (chu vi hình chữ nhật, số La Mã, bảng số liệu thống kê, đơn vị đo khối lượng gam, trung điểm đoạn thẳng).
- Khảo sát thực trạng chỉ ra rào cản nhận thức và cơ sở vật chất tại hai trường tiểu học (Hùng Vương, Phong Châu), cung cấp dữ liệu thực tiễn cho việc triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đóng góp của khóa luận:
- Về mặt lý luận: Cung cấp tài liệu tham khảo có cấu trúc khoa học về cách vận dụng lý thuyết đa trí tuệ vào một phân môn cụ thể ở tiểu học, làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa thuyết MI và định hướng dạy học phát triển năng lực theo Nghị quyết 29-NQ/TW.
- Về mặt thực tiễn: Đưa ra các giải pháp sư phạm khả thi, giúp giáo viên tiểu học thoát khỏi sự phụ thuộc vào phương pháp thuyết trình truyền thống, biết cách thiết kế bài học toán đa giác quan, hỗ trợ những học sinh có khó khăn trong học toán tìm lại hứng thú học tập thông qua các thế mạnh trí tuệ phi logic.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực trạng và thử nghiệm các biện pháp sư phạm chỉ mới được thực hiện trong phạm vi hẹp tại hai trường tiểu học (Trường Tiểu học Hùng Vương và Trường Tiểu học Phong Châu) trên địa bàn Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ. Điều kiện cơ sở vật chất và trình độ tiếp cận công nghệ thông tin của giáo viên tại địa bàn khảo sát còn hạn chế, ảnh hưởng đến mức độ khai thác tối đa các phương tiện dạy học hiện đại.
- Hướng phát triển: Mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm trên nhiều khối lớp khác của bậc tiểu học (lớp 1, 2, 4, 5); xây dựng khung tiêu chí đánh giá định lượng sự tiến bộ của từng loại hình trí tuệ trong dạy học môn Toán; nghiên cứu ứng dụng công nghệ số và phần mềm học tập tương tác nhằm hỗ trợ tối ưu hóa các bài giảng theo hướng đa trí tuệ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Toán tiểu học trong quá trình học tập học phần Lý luận dạy học môn Toán, thiết kế giáo án và chuẩn bị cho các đợt thực tập sư phạm.
- Giáo viên tiểu học đang tìm kiếm các biện pháp đổi mới phương pháp giảng dạy, kỹ thuật tổ chức trò chơi học tập và giải pháp hỗ trợ học sinh cá biệt hoặc học sinh sợ học môn Toán.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường tiểu học dùng làm tài liệu sinh hoạt tổ chuyên môn về đổi mới phương pháp tiếp cận người học theo định hướng phát triển năng lực.
- Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống ví dụ minh họa và quy trình 5 biện pháp chuyển đổi kiến thức toán học sang đa kênh biểu diễn (lời văn, ký hiệu, hình ảnh, thao tác thực hành).
Câu hỏi thường gặp
1. Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner xác định có bao nhiêu loại hình trí thông minh và gồm những loại nào?
Học thuyết được Howard Gardner công bố năm 1983 trong cuốn sách Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences, xác định có 8 loại hình trí tuệ: Trí tuệ Lôgic - Toán học, Trí tuệ Ngôn ngữ, Trí tuệ Không gian, Trí tuệ Thể chất (Vận động cơ thể), Trí tuệ Âm nhạc, Trí tuệ Giao tiếp, Trí tuệ Nội tâm và Trí tuệ Tự nhiên học.
2. Vì sao tác giả cho rằng việc vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy môn Toán lớp 3 lại cần thiết đối với học sinh sợ học Toán?
Môn Toán thường đòi hỏi ưu thế về trí tuệ logic - toán học. Khi giáo viên chỉ sử dụng một cách tiếp cận duy nhất bằng logic thuần túy, những học sinh có thế mạnh về ngôn ngữ, không gian, âm nhạc hay vận động sẽ cảm thấy khó tiếp thu và nảy sinh tâm lý sợ học. Vận dụng thuyết MI giúp giáo viên đa dạng hóa cách tiếp cận bài học (qua tranh vẽ, câu chuyện, trò chơi vận động, thực hành), giúp học sinh tiếp cận toán học bằng chính loại hình trí tuệ nổi trội của mình.
3. Khóa luận đề xuất những biện pháp sư phạm cụ thể nào để dạy học Toán lớp 3 theo hướng đa trí tuệ?
Tác giả đề xuất 5 biện pháp chính: (1) Mở rộng hướng tiếp cận kiến thức mới cho học sinh; (2) Chuyển đổi kiến thức toán học dưới nhiều hình thức khác nhau (lời văn, ký hiệu, hình vẽ); (3) Tổ chức đa dạng các hoạt động học tập (kết hợp làm việc nhóm và cá nhân); (4) Sử dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học; (5) Sử dụng đa dạng các phương tiện dạy học.
4. Dữ liệu thực trạng dạy học trong khóa luận được thu thập tại những cơ sở giáo dục nào?
Dữ liệu khảo sát thực trạng và điều tra thực tế của khóa luận được thu thập tại Trường Tiểu học Hùng Vương và Trường Tiểu học Phong Châu, thuộc địa bàn Thị xã Phú Thọ, Tỉnh Phú Thọ.
5. Khóa luận đưa ra những ví dụ nào về việc tiếp cận bài học toán thông qua liên môn và lịch sử toán học?
Tác giả đưa ra ví dụ dạy bài "Thực hành xem đồng hồ" bằng trò chơi "Bé tập vẽ kim đồng hồ" kết hợp màu sắc quy ước (liên môn mỹ thuật); ví dụ giới thiệu nguồn gốc và ứng dụng của chữ số La Mã cổ đại trong đời sống (lịch sử toán học); và ví dụ mẩu chuyện nhà toán học Ơclit chia táo để mở đầu bài học (kể chuyện lịch sử).
Kết luận
Khóa luận "Vận dụng thuyết đa trí tuệ vào dạy học môn Toán lớp 3" đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 8 loại hình trí tuệ theo học thuyết của Howard Gardner và đường lối đổi mới phương pháp dạy học tiểu học. Trên cơ sở khảo sát thực trạng tại các trường tiểu học thuộc tỉnh Phú Thọ, tác giả đã đề xuất 3 nguyên tắc và 5 biện pháp sư phạm cụ thể kèm các ví dụ bài học bám sát chương trình Toán lớp 3. Công trình khẳng định tính đúng đắn của việc đa dạng hóa hình thức tiếp cận kiến thức nhằm phát huy tối đa năng lực tiềm ẩn của từng học sinh, mang lại giá trị thực tiễn phục vụ công tác giảng dạy môn Toán ở bậc tiểu học.