Luận văn thạc sĩ ueh vận dụng thẻ điểm cân bằng đánh giá thành quả hoạt động tại trung tâm thông tin di động khu vực ii

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích ứng dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá hiệu quả hoạt động tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực II.

Người đăng

Ẩn danh
142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG

1.1. Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ điểm cân bằng

1.2. Khái niệm về thẻ điểm cân bằng

1.3. Nội dung của Thẻ điểm cân bằng

1.4. Tầm nhìn và chiến lược

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI VMS2

2.1. Tình hình tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh tại VMS2

2.2. Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động tại VMS2

2.3. Ưu điểm và nhược điểm trong cách đánh giá thành quả hoạt động tại VMS2

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG II

3. CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI VMS2

3.1. Những cơ sở của việc vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại VMS2

3.2. Vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại VMS2

3.3. Quy trình triển khai thẻ điểm cân bằng để đánh giá thành quả hoạt động tại VMS2

3.4. Các kiến nghị đối với VMS2

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG III

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1

Phụ lục 2

Phụ lục 3

Phụ lục 4

Phụ lục 5

Phụ lục 6

Phụ lục 7

Tóm tắt

I. Tổng quan về thẻ điểm cân bằng trong đánh giá hiệu quả

Thẻ điểm cân bằng là một công cụ quản lý chiến lược quan trọng, giúp các tổ chức đánh giá hiệu quả hoạt động của mình. Được phát triển bởi Kaplan và Norton, thẻ điểm cân bằng không chỉ tập trung vào các chỉ số tài chính mà còn mở rộng ra các khía cạnh khác như khách hàng, quy trình nội bộ và học tập-tăng trưởng. Điều này giúp các doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động của mình.

1.1. Lịch sử phát triển của thẻ điểm cân bằng

Thẻ điểm cân bằng ra đời vào những năm 1990, nhằm khắc phục những hạn chế của các chỉ số tài chính truyền thống. Kaplan và Norton đã chỉ ra rằng, để đánh giá hiệu quả hoạt động, cần phải xem xét cả các yếu tố phi tài chính, từ đó tạo ra một hệ thống đo lường toàn diện hơn.

1.2. Khái niệm và nội dung của thẻ điểm cân bằng

Thẻ điểm cân bằng là một khung mẫu tích hợp các thước đo phát sinh từ chiến lược. Nó bao gồm bốn khía cạnh chính: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học tập-tăng trưởng, giúp tổ chức chuyển hóa tầm nhìn thành các mục tiêu cụ thể.

II. Vấn đề trong đánh giá hiệu quả tại Trung tâm thông tin di động khu vực II

Trung tâm thông tin di động khu vực II (VMS2) đang gặp phải nhiều thách thức trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động. Hệ thống hiện tại chủ yếu tập trung vào các chỉ số tài chính ngắn hạn, dẫn đến việc bỏ qua các yếu tố dài hạn quan trọng. Điều này ảnh hưởng đến khả năng phát triển bền vững của tổ chức.

2.1. Thực trạng đánh giá hiệu quả tại VMS2

Hệ thống đánh giá hiện tại tại VMS2 chủ yếu dựa vào lợi nhuận và doanh thu, mà không xem xét đến sự hài lòng của khách hàng hay quy trình nội bộ. Điều này dẫn đến việc thiếu thông tin cần thiết để đưa ra quyết định chiến lược.

2.2. Những thách thức trong quản lý hiệu suất

VMS2 đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý hiệu suất, bao gồm việc thiếu các chỉ số đo lường hiệu quả phi tài chính và sự không đồng bộ trong các quy trình nội bộ.

III. Phương pháp vận dụng thẻ điểm cân bằng tại VMS2

Việc áp dụng thẻ điểm cân bằng tại VMS2 sẽ giúp tổ chức có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động. Phương pháp này không chỉ giúp đo lường hiệu quả tài chính mà còn đánh giá các yếu tố khác như sự hài lòng của khách hàng và quy trình nội bộ.

3.1. Xác định tầm nhìn và chiến lược

Để vận dụng thẻ điểm cân bằng, VMS2 cần xác định rõ tầm nhìn và chiến lược của mình. Điều này sẽ giúp tổ chức có cơ sở để thiết lập các mục tiêu và thước đo cụ thể.

3.2. Thiết lập các chỉ số đo lường hiệu quả

VMS2 cần xây dựng một hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả toàn diện, bao gồm cả các chỉ số tài chính và phi tài chính. Điều này sẽ giúp tổ chức có cái nhìn rõ ràng hơn về hiệu quả hoạt động của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn của thẻ điểm cân bằng tại VMS2

Việc áp dụng thẻ điểm cân bằng tại VMS2 đã mang lại nhiều lợi ích. Tổ chức có thể theo dõi hiệu quả hoạt động một cách toàn diện hơn, từ đó đưa ra các quyết định chiến lược chính xác hơn.

4.1. Kết quả đạt được sau khi áp dụng

Sau khi áp dụng thẻ điểm cân bằng, VMS2 đã cải thiện được hiệu quả hoạt động, tăng cường sự hài lòng của khách hàng và tối ưu hóa quy trình nội bộ.

4.2. Những bài học rút ra từ quá trình áp dụng

Quá trình áp dụng thẻ điểm cân bằng tại VMS2 đã chỉ ra rằng, việc kết hợp các chỉ số tài chính và phi tài chính là rất quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động một cách toàn diện.

V. Kết luận và tương lai của thẻ điểm cân bằng tại VMS2

Thẻ điểm cân bằng là một công cụ hữu ích giúp VMS2 đánh giá hiệu quả hoạt động một cách toàn diện. Tương lai của thẻ điểm cân bằng tại VMS2 sẽ phụ thuộc vào việc tổ chức có tiếp tục cải tiến và áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại hay không.

5.1. Tương lai của thẻ điểm cân bằng tại VMS2

VMS2 cần tiếp tục cải tiến hệ thống thẻ điểm cân bằng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường và khách hàng.

5.2. Đề xuất cho việc cải tiến hệ thống đánh giá

Để nâng cao hiệu quả của thẻ điểm cân bằng, VMS2 nên xem xét việc tích hợp thêm các công nghệ mới và phương pháp quản lý hiện đại vào hệ thống đánh giá của mình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh vận dụng thẻ điểm cân bằng đánh giá thành quả hoạt động tại trung tâm thông tin di động khu vực ii

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của thẻ điểm cân bằng : Trước năm 1990, để đánh giá thành quả hoạt động của mình, hệ thống quản trị của các công ty chủ yếu sử dụng các chỉ số tài chính và ngân sách. Các chỉ số thường được sử dụng như lợi nhuận trên mỗi đồng vốn sử dụng (ROCE: return on capital employed), thu nhập trên mức đầu tư (ROI : return on investment), thu nhập trên mỗi cổ phiếu ( EPS: earning per share), giá cổ phiếu hiện tại, tốc độ tăng doanh thu… Có thể giải thích lý do mà các công ty trong giai đoạn này chú trọng vào các chỉ tiêu tài chính để đo lường mức độ hiệu quả trong hoạt động của mình là do trong giai đoạn này xu hướng quản trị doanh nghiệp của thế giới vẫn còn bị ảnh hưởng của phong cách quản trị trong thời đại công nghiệp (từ năm 1850 đến khoảng năm 1975). Trong giai đoạn đó (thời đại công nghiệp), các công ty đã thành công bằng cách nắm bắt tốt những lợi ích từ các lợi ích kinh tế theo quy mô và theo phạm vi. Tuy nhiên khi thế giới bước vào thời đại thông tin trong những năm cuối của thế kỷ 20 thì những nhận định cơ bản về cạnh tranh như trong thời đại công nghiệp đã trở nên lạc hậu.

Nếu hệ thống quản trị chỉ sử dụng các thước đo tài chính để đánh giá thành quả hoạt động của các công ty trong giai đoạn này là không đủ bởi vì các thước đo tài chính chỉ đề cập các sự kiện đã qua, chỉ đủ đối với các công ty trong thời đại công nghiệp, khi việc đầu tư vào những khả năng và các mối quan hệ khách hàng lâu dài không đóng vai trò quan trọng trong thành công của họ. Tuy nhiên chúng sẽ không đủ trong việc dẫn dắt và đánh giá hành trình mà các công ty trong thời đại thông tin cần phải thực hiện để tạo ra giá trị cho tương lai thông qua việc đầu tư vào khách hàng, nhà cung cấp, nhân công, các quá trình, công nghệ và đổi mới (Kaplan và Norton 1996, trang 23-24). Xuất phát từ thực tế là tài sản vô hình có vai trò ngày càng quan trọng trong việc tạo ra giá trị cho các công ty cũng như với niềm tin rằng các cách thức đo lường hiệu quả hoạt động chủ yếu dựa vào các thước đo tài chính đã trở nên lỗi thời. David Norton và Robert Kaplan cho rằng các công ty nếu muốn cải thiện hiệu quả quản lý các tài sản vô hình (như thương hiệu, lòng trung thành của khách hàng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 văn hóa, nguồn nhân lực, năng lực tổ chức) thì họ phải tích hợp việc đo lường các tài sản vô hình vào hệ thống quản trị của mình (Ngô Quý Nhâm).

Hai ông đã xây dựng nên công cụ thẻ điểm cân bằng để đo lường và đánh giá việc thực thi chiến lược của các công ty dựa trên ba yếu tố cơ bản (Ngô Quý Nhâm): - Hệ thống mục tiêu của GE - Nghiên cứu của Herb Simon và Peter Drucker - Phong trào quản lý của Nhật Bản 1.2 Khái niệm về thẻ điểm cân bằng : Theo Kaplan và Norton (1996, trang 38) thì “Thẻ điểm cân bằng là một khung mẫu mới, tích hợp vào nó những thước đo phát sinh từ chiến lược. Trong khi vẫn duy trì các thước đo tài chính về các hoạt động trong quá khứ, thẻ điểm cân bằng đưa ra những động lực cho các hoạt động tài chính trong tương lai. Những động lực này gồm các khía cạnh về khách hàng, quá trình kinh doanh nội tại, học tập và tăng trưởng được sinh ra từ quá trình chuyển hóa rõ ràng, nghiêm ngặt chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo hữu hình”. Bốn khía cạnh này mang lại một sự cân bằng giữa những mục tiêu dài hạn và ngắn hạn, giữa những kết quả mong đợi và những nhân tố thúc đẩy hiệu quả hoạt động (performance driver/leading indicator) của những kết quả đó, giữa các thước đo tài chính và phi tài chính.

Tất cả các mục tiêu và thước đó trên thẻ điểm cân bằng đều hướng đến việc thực thi chiến lược. Thẻ điểm cân bằng được sử dụng không chỉ để đánh giá kết quả của việc thực thi chiến lược mà còn được xem như một công cụ truyền đạt thông tin nội bộ và là một công cụ quản lý chiến lược hiệu quả của công ty.3 Nội dung của Thẻ điểm cân bằng : Thẻ điểm cân bằng chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể, được tổ chức thành bốn khía cạnh khác nhau là Tài chính, Khách hàng, Quá trình kinh doanh nội tại và Học tập-Tăng trưởng. Nội dung của thẻ điểm cân bằng được thể hiện cụ thể trong Hình 1.1: Thẻ điểm cân bằng cung cấp một khung mẫu giúp biến chiến lược thành các tiêu chí hoạt động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1:Thẻ điểm cân bằng cung cấp một khung mẫu giúp biến chiến lược thành các tiêu chí hoạt động.

Nguồn: Kaplan và Norton (1996, trang 25) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tầm nhìn và chiến lược : Kaplan và Norton (2003, trang 57-58) nói rằng “Tầm nhìn là một tuyên bố súc tích xác định những mục tiêu trung và dài hạn của tổ chức (từ ba đến mười năm). Tầm nhìn nên hướng ngoại, có định hướng thị trường và nên thể hiện rõ tổ chức muốn thế giới nhìn nhận mình như thế nào bằng các thuật ngữ sinh động hoặc “dễ thấy” ”. Chiến lược là gì? Lý thuyết về chiến lược đặc biệt rất khác nhau.Các học giả và những người thực hành quản trị trên thực tế có những khuôn mẫu chiến lược rất khác nhau và chưa có một định nghĩa thống nhất về chiến lược. Theo Michael Porter, nhà sáng lập và người đi đầu xuất chúng trong lĩnh vực chiến lược, thì chiến lược là việc chọn lọc một tập hợp các hoạt động mà tổ chức có thể thực hiện một cách xuất sắc để tạo ra khác biệt bền vững trong thị trường.

Sự khác biệt bền vững có thể là việc tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh, hoặc cung cấp những giá trị tương đương nhưng với chi phí thấp hơn (Kaplan và Norton 2003, trang 58-59). Có hai chiến lược cơ bản: - Chiến lược chi phí thấp: là chiến lược mà doanh nghiệp đạt được chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh thông qua việc gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, thực hiện các biện pháp hữu hiệu để quản lý chi phí. - Chiến lược khác biệt hóa: là chiến lược mà doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho khách hàng với những tính năng nổi trội hoặc có những điểm khác biệt với các loại sản phẩm của các doanh nghiệp khác trong ngành Tầm nhìn và chiến lược là hai bước trong một chuỗi liên tục các bước thể hiện giá trị là gì và được hình thành như thế nào. Điều này được thể hiện cụ thể trong Hình 1.2: Tầm nhìn và chiến lược là hai bước trong một chuỗi liên tục thể hiện giá trị là gì và được hình thành như thế nào.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 SỨ MỆNH Lý do chúng ta tồn tại CÁC GIÁ TRỊ Điều quan trọng đối với chúng ta TẦM NHÌN Điều chúng ta muốn trở thành CHIẾN LƯỢC Kế hoạch ứng biến của chúng ta BẢN ĐỒ CHIẾN LƯỢC Diễn dịch chiến lược THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG Đo lường và tập trung MỤC TIÊU VÀ HÀNH ĐỘNG Điều chúng ta cần phải làm MỤC ĐÍCH CÁ NHÂN Điều tôi cần phải thực hiện KẾT QUẢ CHIẾN LƯỢC Cổ đông Khách hàng Những quy Lực lượng lao động năng động thỏa mãn hài lòng trình hiệu quả và có trình độ HÌNH 1.2:Tầm nhìn và chiến lược là hai bước trong một chuỗi liên tục thể hiện giá trị là gì và được hình thành như thế nào(Nguồn: Kaplan và Norton 2003,trang 56) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Thông tin về phương diện tài chính : Các công ty khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh đều đặt ra nhiều mục tiêu về kinh tế và xã hội. Tuy nhiên mục tiêu sau cùng và quan trọng nhất đối với phần lớn các công ty là các mục tiêu về kinh tế (tài chính). Do đó khi xây dựng BSC,tất cả các mục tiêu và thước đo của ba khía cạnh còn lại của BSC đều tập trung hướng về các mục tiêu tài chính. Các thước đo và các chỉ tiêu ở các khía cạnh khác (khách hàng, quá trình kinh doanh nội bộ, học tập-tăng trưởng) được chọn phải nhằm mục đích cải thiện hiệu quả tài chính.

Điều này có nghĩa là tất cả các thước đo và mục tiêu trong các khía cạnh còn lại đều phải có sự kết nối với các mục tiêu trong khía cạnh tài chính. Đây là các mối quan hệ nhân quả và điểm kết thúc là ở mục tiêu tài chính.Vì vậy có thể nói mục tiêu tài chính đạt được là kết quả có được từ những sự cải tiến ở ba khía cạnh còn lại. Mục tiêu tài chính của công ty trong các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh doanh thì khác nhau. Có 3 giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh doanh: - Tăng trưởng (Growth): Là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ của chu kỳ kinh doanh.

Đây là giai đoạn mà nhu cầu về đầu tư là rất lớn (lớn nhất trong 2 giai đoạn còn lại) và mang tính dài hạn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Duy trì (Sustain): Là giai đoạn bão hòa của của chu kỳ kinh doanh. Đây là giai đoạn mà doanh nghiệp vẫn cần đầu tư và tái đầu tư nhưng đòi hỏi tỷ suất hoàn vốn cao hơn, đồng thời tập trung vào duy trì thị phần hiện tại. - Thu hoạch (harvest): Là giai đoạn chính muồi của chu kỳ kinh doanh.

Đây là giai đoạn doanh nghiệp chỉ đầu tư để duy trì năng lực hiện tại, không mở rộng hoạt động kinh doanh và hướng tới mục tiêu thu hồi vốn nhanh các khoản đầu tư. Trong từng giai đoạn khác nhau, mục tiêu tài chính sẽ khác nhau. Cụ thể: - Giai đoạn tăng trưởng: Mục tiêu tài chính là tỷ lệ tăng trưởng phần trăm về doanh thu, tỷ lệ tăng doanh số bán hàng ở từng khu vực, nhóm khách hàng và các thị trường mục tiêu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Giai đoạn duy trì: Mục tiêu tài chính liên quan đến khả năng sinh lời như thu nhập kinh doanh, lãi gộp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ