Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học tích hợp. Chương II: Vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy học những nội dung khó - Sinh học 11. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. Kết luận và khuyến nghị Công trình khoa học đã công bố của tác giả Tài liệu tham khảo Phụ lục 14 z KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC SINH HỌC THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP.
Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp. Một số khái niệm cơ bản. Tích hợp là lắp ráp, nối kết các thành phần của một hệ thống để tạo nên một hệ thống đồng bộ [28, 1217]. Tích hợp (intergration) là sự thống nhất, sự hòa nhập thành một hệ thống nhất, là sự hợp nhất, hòa nhập.
Trong giáo dục hiện đại, tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, các phân môn khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu khác nhau. Trong dạy học người ta chia ra hai kiểu tích hợp là tích hợp ngang và tích hợp dọc: - Tích hợp ngang: tích hợp kiến thức và kỹ năng giữa phân môn này với kiến thức và kỹ năng của phân môn khác. - Tích hợp dọc: tích hợp giữa kiến thức và kỹ năng mới với kiến thức và kỹ năng mà người học đã được học từ trước đó theo nguyên tắc đồng trục, vòng tròn đồng tâm hay xoáy trôn ốc. Những kiến thức và kỹ năng đã được lĩnh hội ở bài học, lớp học, bậc học sau bao hàm kiến thức và kỹ năng của bài học, lớp học, bậc học trước nhưng cao hơn và sâu sắc hơn.
Chương trình được biên soạn theo 15 z hướng tích hợp có vai trò giúp GV và HS sẽ có cái nhìn khái quát, liên hệ kiến thức giữa các bài học trong một môn học cũng như giữa các môn học với nhau. Tích hợp trong dạy học. Roegiers (1996), tích hợp trong dạy học là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ quá trình học tập tương lai hoặc hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy, quan điểm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa [44].
Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó, quan điểm tích hợp dự định những hoạt động tích hợp trong đó HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc. Quan điểm tích hợp sàng lọc những thông tin hữu ích để hình thành các năng lực và mục tiêu tích hợp. Trên thế giới, quan điểm tích hợp được áp dụng ở nhiều môn học khác nhau với các mức độ khác nhau. Ví dụ ở Malaixia, chương trình Tiểu học là “The Intergrated curriculum for Rrimary school” (chương trình giảng dạy tích hợp cho trường Tiểu học) đã thể hiện các hướng tích hợp cụ thể là: tích hợp nhiều kỹ năng trong một môn học, tích hợp nhiều kỹ năng trọng số môn học, hấp thụ kiến thức nội dung môn học khác qua các môn đang dạy, tích hợp các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp qua các môn học, tích hợp chương trình chính khóa và ngoại khóa, tích hợp kiến thức và thực tiễn.
Tích hợp trong dạy học thể hiện qua nhiều cách tiếp cận: lồng ghép (infusiong): đưa thêm nội dung cần học, nội dung tương tự môn học chính; tích hợp (intergration): là sự kết hợp tri thức nhiều môn tạo nên môn học mới. 16 z Có thể nói ở Việt Nam, quan niệm này mới chỉ được tiếp nhận chủ yếu ở mức độ lý luận và lồng ghép ở mức độ thấp. Tích hợp được thể hiện qua lồng ghép: đưa nội dung cần bổ sung vào nội dung môn học chính, hoặc tích hợp nhiều môn học tạo thành môn học mới. Trong giới hạn đề tài, tôi mong muốn tích hợp các kiến thức Toán học, Vật lý, Hóa học có liên quan nhằm hỗ trợ cho dạy học Sinh học 11, đặc biệt là những nội dung kiến thức khó.
Theo Xavier Roegiers (1996), sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính từ trước những điều cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai hoặc nhằm hòa nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy, sư phạm tích hợp không ngoài mục đích là nhằm làm cho quá trình học tập có ý nghĩa thông qua việc: - Giúp HS học cách sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa: Tình huống tích hợp là tình huống có ý nghĩa, mang các thông tin cốt yếu, gần gũi với HS, giúp HS giải quyết các vấn đề kiến thức mới. - Tích hợp các mục tiêu học tập: Để giải quyết một tình huống tích hợp, HS cần tích hợp nhiều kỹ năng, trong đó có những kỹ năng cơ bản, thiết yếu. Sư phạm tích hợp ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
Xavier Roegiers (1996), cho rằng “Khoa sư phạm tích hợp dựa trên tư tưởng năng lực, tức là biết sử dụng các kỹ năng trong một tình huống có vấn đề”. Ông cũng chỉ ra rằng trong quá trình dạy học tích hợp có một số đặc điểm sau [44]: - Nhà trường phải tiếp tục là một đảm bảo cho những giá trị quan trọng của xã hội. Chỉ có thông qua giá trị đó, thì toàn bộ các hoạt động học tập và hoạt động nghề nghiệp mới có ý nghĩa. 17 z - Nhà trường không chỉ có chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức và thông tin, mà còn giúp HS có khả năng tìm thông tin, quản lý thông tin và tổ chức các kiến thức.
- Ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy HS cách sử dụng kiến thức của mình vào những tình huống có ý nghĩa với HS. Theo Phạm Văn Lập (1998), Tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kỹ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong các phần kiến thức khác của cùng môn học. Thí dụ, toán học được sử dụng như một công cụ đắc lực trong nghiên cứu sinh học, tin học được sử dụng như một công cụ để mô hình hóa các quá trình sinh học …[24]. Mục đích của dạy học tích hợp.
Mục đích tích hợp trong dạy học là làm cho quá trình học tập có ý nghĩa bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, tiến hành trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà HS sẽ gặp sau này, những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hòa nhập thế giới học đường với cuộc sống. Mục đích tích hợp là phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn. Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần thiết giúp HS vận dụng để xử lý những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo. Dạy học theo quan điểm tích hợp giúp HS vận dụng kiến thức trong những tình huống cụ thể.
Thay vì chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức thuần túy thì 18 z nó chú trọng tập dượt cho HS nhiều kiến thức, kỹ năng vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống. Ngoài ra, tích hợp trong dạy học là giúp người học xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học. Trong quá trình học tập, HS được học các khái niệm khác nhau trong một môn học và trong nhiều môn học khác nhau. Điều quan trọng là HS phải biểu đạt được các khái niệm đã học trong những mối quan hệ của các môn học, có cái nhìn khái quát về khái niệm đó trong một tổng thể các môn học với nhau.
Nguồn thông tin càng đa dạng phong phú, thì HS càng hiểu khái niệm ở nhiều góc cạnh, hiểu kiến thức càng sâu sắc hơn. Trên cơ sở đó HS mới có thể làm chủ kiến thức và vận dụng kiến thức đã học đó nhằm đương đầu với những tình huống thử thách trong cuộc sống. Khi các kỹ năng cơ bản được vận dụng vào tình huống cụ thể sẽ dẫn đến hình thành những năng lực cần thiết. Đối với một chương trình đào tạo, thì các năng lực này chính là hệ thống mục tiêu người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình (một khóa học, một chương hay một bài học).
Mục đích tích hợp là một năng lực: - Năng lực này là một hoạt động đòi hỏi sự tích hợp chứ không phải đặt cạnh những kiến thức, kỹ năng. - Trong dạy học, người GV sử dụng tình huống tích hợp càng gần với thực tiễn cuộc sống HS hay gặp càng tốt. - Do đó mục đích tích hợp là vận dụng những kỹ năng hướng đến phát triển tính tự lập ở người học. Mô hình và phương pháp tích hợp.
Roegiers (1996) đã đưa ra hai mô hình và phương pháp tích hợp trong các mô hình đó [44]: Mô hình 1: Tích hợp các môn học xung quanh một mục tiêu học tập chung. Mục đích: tích hợp hoàn toàn một số giáo trình riêng rẽ vào một giáo trình duy nhất. Phương pháp: tìm những môn học với những mục tiêu bổ sung cho nhau và khai thác tính bổ sung đó. Mô hình 2: Tích hợp môn học theo đề tài tích hợp.
Mục đích: xác định những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau đồng thời vẫn duy trì những quá trình học tập riêng lẻ. Ứng dụng: - Cách 1: những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối mỗi năm học hay cuối những bậc học. Theo cách này, các môn học vẫn được duy trì riêng lẻ, nhưng sau một năm học, bậc học HS sẽ được đánh giá theo khả năng thực hiện một bài tập tích hợp. - Cách 2: Việc tích hợp được thực hiện đều đặn trong năm học.
Bản chất của sư phạm tích hợp là tạo điều kiện cho HS phát triển một cách toàn diện, phát triển các năng lực, kỹ năng sống song song các kiến thức đơn thuần. Mỗi bài học có một hệ thống mục tiêu cụ thể. Khi các kỹ năng cơ bản được vận dụng vào các tình huống tích hợp, sẽ hình thành ở người học các năng lực. Các năng lực được hình thành trong tất cả các môn học trong cả năm học tạo nên mục tiêu tích hợp.