CHƯƠNG 1 QUAN DIEM CUA KHONG TU VE GIAO DUC 1. KHONG TU’- VAN THE SU BIEU Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Khổng Tử sinh ra trong một gia đình quý tộc nhỏ sa sút. 'Ông là con của vợ bé trong một gia đình của một viên quan nhỏ.
Cha Không ‘Tir mắt sớm ~ mất khi ông lên ba tuổi. Ông sống với mẹ trong cảnh nghèo. khổ, phải làm lụng vất vả, nhưng ông rất chăm học và nỗi tiếng là người hay. chữ thông minh.
Năm 19 tuổi Khổng Tử lấy vợ và được bổ nhiệm chức quan nhỏ. Năm 22 tuôi, ông mở trường dạy học. Trong suốt 20 năm, từ năm 34 tuổi đến năm. 51 tuổi ông dẫn học trò đi khắp mọi nơi để truyền bá tư tưởng của mình và tìm người sử dụng tư tưởng đó.
Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi không. Năm 5I tuổi, ông quay về nước Lỗ, vua nước Lỗ mời ông ra làm. quan ở huyện Trung Đô, một năm sau được phong chức đại tư khấu. Ông đã đặt ra pháp luật giúp người nghèo định việc quan, hội, tang tế rất minh bạch.
đem lại đời sống thái bình thịnh trị cho nhân dân, nhờ đó đã góp phần quan trong giúp nước Lỗ trở nên thịnh trị, tuy nhiên do bị dèm pha nên ông từ chức và phải ra đi một lần nữa. Không Tử đi chu du nhiều nước láng giềng nhằm mục đích cầu quan và hành đạo nhưng ông đã không tìm được minh chúa hợp với ý nguyện. Đến ổi, ông đã quay quê hương nước Lỗ tiếp tục dạy học và viế Không Tử không trực tiếp viết sách đề trình bày quan điểm lý luận của mình, vì ông quan niệm “thuật nhỉ bất tác” (chỉ thuật lại chứ không sáng tác). sách đồ sộ do chính Khổng Tử san định (sưu tập, biên soạn) chính là bộ “Ngũ kinh” gồm 5 quyén sách: Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh Xuân thu, Kinh thư, Kinh thi cũng được coi là những nội dung của học thuyết Nho giáo.
"Tư tưởng của ông về sau được học trò ghi chép, biên soạn lại thành một cuốn sách gọi là “Luận ngữ". “Luận ngữ” là cuốn sách ghi chép những lời nói, những câu chuyện hàm nghĩa giáo huấn sâu xa của ông đối với các đệ tử, cùng với nhiều ý kiến trao đổi của ông với học trò và những người đương thời liên quan tới kinh tế, chính trị, đạo đức, văn học, triết học. Luận ngữ là một cuốn sách này có giá trị tư tưởng rất cao và thường được coi là “Thánh kinh. của người Trung Hoa” Người đời đã nâng học thuyết của Khổng Tử thành “khuôn vàng thước ngọc” của các triều đại phong kiến phương Đông và họ đã ấp dụng nó trong việc trị nước an dân.
Ông mắt năm 479 TCN, thọ 72 tuổi. Khổng Tử là một nhà giáo dục lớn được người Trung Hoa tôn là “Chí thánh tiên s "Vạn thế sư biểu”. Bản thân Khổng Từ là một tắm gương sáng về giáo dục. Ông đã từng nhận mình là “học nhỉ tri chi”, tức là bản thân ông do học mà biết, do đó trong sách Luận ngữ ông viết: “Ta 15 tuổi chí thú ở việc học, 30 tuổi lập thân, 40 tuổi không nghỉ hoặc, 50 tuổi biết được mệnh trời, 60 tuổi tai thuận, 70 tuổi biết theo cái lòng mình thích mà không vượt qua khuôn khổ” (Luận ngữ, Vi chính, 4)'.
'Tư Mã Thiên đã từng nhận xét về Không Tử như sau: Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như: đại Đạo khiến người ta tuân theo. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút sì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách Sách Luận ngữ của Không Tử được nhiều nhà nghiên cứu Nho giáo Việt Nam dịch và chú giải, như Nguyễn Hiển Lê, Doan Trung Côn.
Tắt cả đều thông nhất ở tên chương, tiết ở phần chữ Hán và phiên âm Hán - Việt, tuy mỗi tác giả có cách địch và chú giải khác nhau ra tiếng Việt. Trong chú thích của Luận văn này, từ thứ hai là tên chương trong Luận. ngữ, con số (thứ ba) là tên tiết trong mỗi chương. đều tôn ông làm thầy.
Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về “Lục Nghệ” thì đều xem học thuyết ấy của Không Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Không Tử là một “Thánh nhân chí cao vô thượng [55]. Hơn 2000 năm trước đây, Tư Mã Thiên đã dùng lời nhận định ấy khi nói về Không Tử nhưng đến tận bây giờ dù thời gian qua đi nhưng tỉnh thần ấy còn nguyên giá trị cho tới hôm nay. “Theo đánh giá của Tư Mã Thiên, số học trò của Khổng Từ có đến 3000 người trong đó có 70 người tỉnh thông lục nghệ.
Trong Luận ngữ có ghi lại lời Nhan Uyên ngậm ngùi mà than rằng: 'Đạo của thầy ngắng lên càng thấy càng cao, dùi vào càng thấy càng bền, nhìn nó ở đằng trước bỗng nó ở đẳng sau. Thầy tuần mà khéo léo dẫn dụ mọi người, làm rộng kiến thức của ta bằng văn chương, ước chế hành vi của ta bằng pháp lễ, ta muốn thôi cũng không được. Lúc nào ta hết khả năng, ta thấy dường như lại được tiếp sức (Luận ngữ, Tư Hãn, 10). Cuộc đời của Không Tử là cuộc đời của một nhà giáo dục chân chính, một bậc thầy vĩ đại không phải là chỉ riêng Trung Hoa mà còn cho cả thế giới loài người nữa.
Với Khổng Tử địa vị của ông thầy đã được người đời xưa nâng lên trên cả địa vị của ông cha trong gia đình. “Quan, Sư, Phụ” sau ông, vua là đến ông thầy rồi sau hết mới đến ông cha. Người cha cũng có bổn phận. dạy dỗ, giáo dục con cái của mình, nhưng trong xã hội xưa người dạy dỗ con mình nhiều nhất, người theo đõi, săn sóc, vun xới cái vườn kiến thức và đạo đức của con mình biến nó thành một vườn hoa tươi tốt người đó chính là ông.
Làm cho một người trở thành một người có kiến thức có đạo đức sống xứng đáng với ý nghĩa cao đẹp của con người đó là công của ông thầy, của người biết mang trong mình cái trọng trách “hối nhân bất quyện” (dạy. 10 người không biết mệt). Không Tử đã ý thức được sứ mạng cũng như thiên chức cao quý của một lương sư. Sứ mạng cũng như thiên chức đó là truyền bá cho người đời đạo làm người hay lềlối sống thế nào để cho cá nhân, gia đình, quốc gia, xã hội loài người được tốt đẹp, trật tự, hòa bình.
Hậu thế đã tôn sung. Ngài như bậc thầy của muôn đời, bậc “vạn thế sư biểu”, bởi chủ trương, đường lối, mục tiêu, phương pháp giáo dục của Ngài chứa đựng nl nu gid tr mà người đời sau phải công nhận và học hỏi. Chính vì lẽ đó mà các triều đại phong kiến Trung Quốc đã phong Không Tử là tiên sư, Thánh sư và nhân dân Trung quốc cho ông là người thầy của. muôn đời — *' Vạn thế sư.
Từ năm 22 tuổi cho đến cuối đời, Không Tir "chẳng dám phong mình là thánh, chẳng dám coi mình là nhân nhưng quả là làm không biết chán, dạy không biết mỏi” (Luận ngữ, Thuật nhi, 33). Đặc biệt ông coi dạy học là một kế sinh nhai, vậy mà cả cuộc đời ông sống trong cảnh lận đận. Lịch sử ghi nhận Khổng Tử là người đầu tiên ở Trung Quốc mở. trường dạy học, có thể nói ông đã mở “quan trường” và con số ba ngàn học.
trò của thầy Khổng đã cho thấy ông xứng đáng là một bậc thầy vĩ đại của nhân dân Trung Hoa nói riêng và thế giới nói chung. Những tư tưởng của Không Tử có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều quốc. gia trên thế giới như: Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản. Ở Việt Nam một số triều đại đã lấy Nho giáo làm quốc giáo.
Đặc biệt, quan điểm giáo dục của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn đến chế độ học tập và thi cử ở nước ta không. chi trong thời kì phong kiến, mà còn có ý nghĩa đến bây giờ. Tử Giám là một minh chứng cho điều đó. NHUNG NOI DUNG CO BAN TRONG QUAN DIEM CUA KHONG TU VỀ GIÁO DỤC Cội nguồn xuất phát của tư tưởng giáo dục Không Tử chính là do tình hình loạn lạc, suy thoái về đạo đức xã hội của Trung Quốc lúc bấy giờ cho " nên muốn khôi phục lại xã hội, Không Tử chủ trương sử dụng con đường giáo dục.
Ông nói “ngộ tòng Chu” có nghĩa là theo nhà Chu, đó là một trật tự xã hội có đẳng cấp, có tôn tỉ trật tự được thiết lập không phải bằng bạo lực mà bằng những lễ nghỉ, những quy tắc đạo đức được mọi người thừa nhận và tự. giác tuân theo, từ vua đến tôi ai ai cũng lấy chính danh làm chuẩn mực. Vì thế mà ông rất coi trọng giáo dục, phản đối bạo lực chiến tranh. Quan điểm đó chính là việc đùng * lức để trị", đó là một tư tưởng mang đậm tỉnh thần nhân văn cao cả.
Chính vì lẽ đó mà ông đã đưa ra một hệ thống các tư tưởng giáo dục nhằm giáo hóa cho dân chúng biết nhân nghĩa lễ chính danh. Hạt nhân tư tưởng của Không Tử đề xướng và xuyên suốt truyền bá trong các lớp học trò là “nhân”. Trong cuốn “Luận ngữ” - một tác phẩm do. học trò chép lại những lời dạy của Khổng Tử, có 109 lần Không Tử nói đến Nhân nhưng không lần nào giống lần nào.
Tuỳ theo từng đối tượng, từng hoàn cảnh mà Khổng Tử đẻ cập đến Nhân theo những nghĩa khác nhau. chung, chữ nhân theo quan niệm của ông mang một ý nghĩa rộng lớn. chặt chẽ với đạo - đạo đức - lòng yêu thương con người, yêu thương vạn vật. ‘Theo Khổng Tử, gốc của nhân là hiếu để, lễ nghĩa, trung thực, vị tha, xã thân cứu người như chính Khổng Tử đã nói: Theo ta, người có đức nhân là: Bản thân mình muốn lập (đứng vững, lập thân, lập nghiệp) thì hãy giúp người khác cũng đứng vững như mình.
Bản thân mình muốn đạt (thành công, thành dat) thi hay giúp người thành đạt. Đối xử với mình như thế nào thì đối xử với người cũng như thế (Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhỉ đạt nhân. Năng cận thủ thí, khả vị nhân chỉ phương đã di (Luận ngữ, Ung dã, 28). Nhân theo Không Tử còn là: “Điều mình không muốn cho mình thì đừng.