CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Theo M.Knoll khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ thế kỉ XVI ở các trường dạy nghề kiến trúc tại Ý sau đó lan rộng sang các nước châu Âu khác và Mĩ từ thế kỉ XVIII [45]. Tại Mỹ, DHDA có mặt ở các trường đại học kiến trúc và kĩ thuật, sau mới mở rộng sang trường phổ thông, đặc biệt ở môn Thủ công, Nghệ thuật và Nông nghiệp [16].
Cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp phương pháp DHTDA và coi đó là phương pháp dạy học (PPDH) quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm. Những quan điểm giáo dục của John Dewey (1859 - 1952) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết của phương pháp DHTDA thời kỳ này. Với học thuyết “learning by doing” (học thông qua hành động), ông cho rằng HS có thể học bằng cách tư duy thông qua hoạt động, tranh luận và giải quyết vấn đề thực tiễn. Quá trình này cho phép lớp học trở thành môi trường với HS là trung tâm thông qua mô hình học tập dựa trên dự án.
Với quan điểm này, John Dewey đã tiến hành những thử nghiệm đầu tiên cho việc áp dụng phương pháp DHDA ở trường đại học bang Chiago nước Mĩ. HS được chia thành các nhóm nhỏ và tham gia thực hiện các dự án cụ thể mà trong đó họ học đọc, học viết, tính toán; học cách lắng nghe người khác; học cách đảm nhận trách nhiệm và học nhiều thứ khác. Và John Dewey rút ra 3 khẳng định: 1) Tất cả HS, để học tập phải tích cực và làm ra một cái gì đó. 2)Tất cả HS phải học cách suy nghĩ và giải quyết các vấn đề.
3)Tất cả HS phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội [34]. Tuy nhiên, những người đã thực sự phát triển, nâng tầm phương pháp này phải kể đến William Heard Kilpatrick, Célestin Freinet, Ovide Decroly, Jean Piaget, v.v…Năm 1918, trong bài viết “Phương pháp dự án” (The project method), 5 Luan van Kilpatrick (1871 - 1965) lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm về “phương pháp dự án” và phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Với nhận định “tâm lý đứa trẻ” là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập, Kilpatrick coi động cơ thúc đẩy học sinh như là các tính năng quan trọng của phương pháp dự án: Trẻ em muốn làm những gì chúng thích hơn là làm những gì theo sự ép buộc của người khác [43]. Theo Kilpatrick, các dự án có bốn giai đoạn: xác định mục đích, lập kế hoạch, thực hiện, và đánh giá.
Ông đã triển khai cụ thể các bước thực hiện trong các nghiên cứu cũng như các dự án thực nghiệm của mình. Ông cho rằng một dự án lý tưởng khi tất cả bốn giai đoạn được bắt đầu và hoàn thành bởi các học sinh chứ không phải giáo viên [44]. John Thomas đã tổng hợp các công trình nghiên cứu về PPDH dự án hay học tập dựa trên dự án của các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới. Công trình đã tổng hợp các quan điểm cũng như phân tích các kết quả của các hướng nghiên cứu của một số người nghiên cứu, qua đó cung cấp cái nhìn tổng quan về các khía cạnh sau của phương pháp DHTDA: Định nghĩa về phương pháp DHTDA; Nền tảng lý luận và thực tiễn của phương pháp DHTDA; Những tác động tích cực của phương pháp DHTDA; Vai trò và đặc điểm của HS trong phương pháp DHTDA; Những thách thức và nâng cao hiệu quả của phương pháp DHTDA, và những định hướng cho nghiên cứu về phương pháp DHTDA [42].
Đặc biệt, William N. Bender đã chỉ ra rằng phương pháp DHTDA là cách tiếp cận dạy học tốt nhất của thế kỷ 21 nhằm giúp người học giải quyết vấn đề thực tiễn. Trên cơ sở trình bày tổng quan về phương pháp DHTDA và các mô hình dự án khác nhau, William N. Bender đã trình bày sự phù hợp giữa phương pháp DHTDA với các lớp học cụ thể, đồng thời chỉ ra những ưu thế của phương pháp DHTDA so với dạy học truyền thống.
Bender đã trình bày các bước thực hiện cụ thể cho việc lập kế hoạch và hướng dẫn thực hiện một số mô hình phương pháp DHTDA, đề xuất kĩ thuật và các chiến lược để phương pháp DHTDA. Cuối cùng William N. Bender đã phân tích sự lựa chọn đánh giá trong phương pháp DHTDA và sự cần thiết kết hợp phương pháp DHTDA với các tiêu chuẩn Nhà nước [32]. 6 Luan van Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu khác của các người nghiên cứu ngoài nước về phương pháp DHTDA như Bleeke [32]; InWent [40]; John Lamer and John Mergendoller [41];John Thomas [42],,.
cũng đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của phương pháp DHTDA. Như vậy, lịch sử phát triển của phương pháp dạy học theo dự án có thể được chia thành các giai đoạn chính như sau: 1590 – 1765: Sự khởi đầu của dạy học DA tại các trường kiến trúc ở châu Âu. 1765 – 1880: Dạy học DA trở thành một PPDH được áp dụng thường xuyên, bắt đầu ở các trường kĩ thuật của Pháp, Đức và Thuỵ Sĩ. Rogers, Đại học (ĐH) Kĩ thuật Massachusetts giới thiệu ở Mỹ.
Woodward, Hiệu trưởng ĐH Bách khoa O'Fallon (thuộc ĐH Washington) đưa phương pháp DA vào trường đào tạo nghề của trường mình, tại đó sinh viên không chỉ thiết kế mà trực tiếp tạo ra các sản phẩm. Dần dần, cách dạy này lan rộng ra các trường nghề (theo Charles R. Richards), rồi trở thành một phong trào cải cách giáo dục (theo David. Stimson) áp dụng vào các ngành khoa học nói chung (theo John F.
Những quan điểm triết học giáo dục và lí thuyết nhận thức của J.Dewey đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lí thuyết cho phương pháp DA của các nhà sư phạm Mỹ đầu thế kỉ XX. 1915 – 1965: Kilpatrick đề cập tới dạy học DA là “ hành động có mục đích bằng cả trái tim” – đề cao ý nghĩa “mục đích” của dạy học DA: cho HS tự do hành động nhằm phát triển sự độc lập, tư duy phe phán và năng lực hành động. Tư tưởng này của Kilpatrick đã giảm dần mức độ ảnh hưởng ở Mỹ nhưng lại nhận được sự đón nhận của châu Âu, Ấn Độ và Cộng hoa liên bang Xô-viết. 1965 – nay: Phương phap DA của Kilpatrick, hiện được áp dụng như PPDH tích cực được tái thiết ở Đức, Thụy Sĩ và các nước châu Âu khác.
Dưới ảnh hưởng của nền giáo dục tiểu học Anh, các nhà giáo dục Mỹ cố gắng xác định lại phương pháp DA, nhìn nhận nó như một PPDH phụ trợ quan trọng bên cạnh 7 Luan van chương trình giảng dạy hướng vào chủ đề, hướng vào giáo viên (teacher–oriented, subject–centered) truyền thống. Có thể coi đây là giai đoạn tái thiết dạy học DA và làn sóng thứ ba của việc phổ biến dạy học DA có tíh chất quốc tế. Như vậy, việc học tập thông qua các DA đã được bắt đầu từ 300 năm trước và đã có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng, mức độ phổ biến,. từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ quốc gia/châu lục này sang quốc gia/châu lục khác.
Ngày nay, theo M.Knoll DHTDA đang được áp dụng rất phổ biến trong tất cả các cấp học ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới. Các DA học tập được HS thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Tại Việt Nam Phương pháp DHTDA đã được các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục Việt Nam tiếp cận và nghiên cứu, được thể hiện ở nhiều công trình nghiên cứu. Từ năm 2003, chương trình “Dạy học cho tương lai” của Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã triển khai phương pháp DHDA tại 20 trường thuộc 9 tỉnh trong cả nước.
Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Thị Diệu Thảo đã có bài viết: “Dạy học dự án- một phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên” đăng trên tạp chí Giáo dục số 80 phát hành tháng 4/ 2004 [8]. Trong vài báo cáo khoa học hai nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Phương Hoa và Võ Thị Bảo Ngọc đã có bài nghiên cứu về “Tình hình vận dụng phương pháp Project trong dạy học ở trường Đại học Sư Phạm- ĐHQG Hà Nội” [16]. Nguyễn Dục Quang có bài viết: “Học để cùng chung sống một con đường giáo dục nhân cách cho học sinh” cũng đã đề cập đến phương pháp DHDA với tư cách là một trong năm phương pháp giáo dục “Học để cùng chung sống” [19]. Trong công trình luận văn của Trần Thị Hoàng Yến, ngoài việc xây dựng và củng cố cơ sở lý luận của phương pháp DHTDA, luận văn đã làm rõ thêm định hướng đổi mới PPDH đại học, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của SV, đồng thời đã xác định được những tiêu chí lựa chọn nội dung môn học để có thể tổ chức phương pháp DHTDA, cùng với các tiêu chí đánh giá hiệu quả của phương pháp DHTDA trong việc dạy học Toán trình độ Đại học phần Xác suất và Thống 8 Luan van kê, sau đó đã tổ chức thực nghiệm khẳng định tính ưu việt của phương pháp DHTDA [31].
Trong bài viết “Dạy học dự án và tiến trình thực hiện” của Đỗ Hương Trà [27] trên Tạp chí Giáo dục số 157 (kì 1-3/2007), đã phân tích cơ sở của khái niệm tiếp cận dự án trong dạy học. Người nghiên cứu cho rằng động lực của người học có vai trò rất quan trọng trong học tập, nếu người giáo viên biết kích thích vai trò tích cực của người học, hướng dẫn để họ tự khám phá, kiên trì theo đuổi một tiến trình có mục đích trong những tương tác xã hội mà họ có thể đạt được, cho họ tự chịu trách nhiệm trong hoạt động hợp tác tìm tòi nghiên cứu, thì hiệu quả của việc dạy và học sẽ nâng lên ở một tầm cao mới. Trên cơ sở phân tích vai trò của người học, người dạy và nhiệm vụ học tập, người nghiên cứu đã xác định tiến trình dạy học theo dự án gồm 3 pha, mỗi pha đều dẫn đến một kết quả xác định: Kết quả của pha đầu tiên là một kế hoạch, kết quả của pha thứ 2 là một hoặc nhiều sản phẩm và kết quả của pha thứ 3 là sản phẩm của tập thể lớp học. Khi chuẩn bị, cần lưu ý một số hoạt động chính là: Lựa chọn dự án, xác định các nguồn tư liệu cần thiết và tổ chức thực hiện dự án (phân công nhiệm vụ các thành viên trong dự án).