phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. z Chƣơng 2: Vận dụng PPDH hợp tác trong dạy học giải bài tập toạ độ trong không gian. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Phƣơng pháp dạy học hợp tác. Khái quát về phương pháp dạy học hợp tác. Khái niệm về phương pháp dạy học hợp tác. PPDH hợp tác là một PPDH, trong đó GV là ngƣời tổ chức, điều khiển các HĐ học tập của HS trong môi trƣờng hợp tác, HS là ngƣời học tậpcó sự hợp tác với nhau nhằm đạt đƣợc mục đích chung về kiến thức và kỹ năng hợp tác [9].
“Hợp tác vừa là phƣơng tiện vừa là mục tiêu dạy học. Hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm: hợp tác giữa các học sinh trong cùng một nhóm, hợp tác giữa các nhóm và hợp tác giữa HS với GV”[9, tr. Với PPDH này, HS đƣợc tham gia vào các nhóm học tậpkhông chỉ thúc đẩy quá trình học tập, tăng tính chủ động sáng tạo trong quá trình giải bài tập, tạo niềm vui khi giải đƣợc một bài toán làm tăng thêm hứng thú, kích thích sự tìm tòi lời giải bài toán, mà còn giúp HS phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ, phát triển tƣ duy hội thoại, nâng cao lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và sự tự tin của ngƣời học, giúp thúc đẩy những mối quan hệ cạnh tranh mang tính tích cực trong học tập [9]. Trƣớc giờ học hợp tác, GV cần phổ biến và hƣớng dẫn cho học sinh cách học hợp tác, cách tổ chức và phân công nhiệm vụ của từng cá nhân trong nhóm, GV cũng cần thông báo cho HS nhiệm vụ và hình thức học tập của giờ học tiếp theo để HS chuẩn bị về mặt tâm lý và kiến thức.
Trong giờ học hợp tác, để các hoạt động có hiệu quả thì nghệ thuật điều hành của GV có ý nghĩa rất quan trọng, GV cần khéo léo dẫn dắt các hoạt động của HS sao cho họ luôn cảm thấy tự mình tìm ra kiến thức mà không có sự áp đặt của GV. PPDH hợp tác đƣợc hình thành dựa trên cơ sở triết học, cơ sở giáo dục học, cơ sở tâm lý học cùng với một số thuyết khoa học khác nhƣ: thuyết làm việc đồng đội, thuyết giải quyết mâu thuẫn, thuyết hợp tác tập thể, thuyết dạy lẫn nhau. Các yếu tố cơ bản của dạy học hợp tác. Dạy học hợp tác bao gồm 5 yếu tố cơ bản sau: Yếu tố 1: Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau: Đây là dấu hiệu cơ bản đầu tiên của học hợp tác.
Nghĩa là mỗi nhóm chỉ đạt đƣợc hiệu quả hoạt động khi tất cả các thành viên đều tích cực tham gia, thành công hay thất bại của mỗi ngƣời cũng là thành công hay thất bại của z cả nhóm. Sự phụ thuộc này khuyến khích các cá nhân cùng nhau làm việc một cách tích cực nhất để nhóm đạt thành tích cao nhất. Sự phụ thuộc lẫn nhau thể hiện nhƣ sau: + Mục đích cùng thiết lập: Một ngƣời đạt đƣợc mục đích nếu cả nhóm cùng đạt mục đích. Tất cả các thành viên trong nhóm nhận đƣợc phần thƣởng nhƣ nhau nếu nhiệm vụ đƣợc hoàn thành.
+ Nhiệm vụ chung nhƣng đƣợc chia thành các nhiệm vụ nhỏ và đƣợc phân công một cách phù hợp theo năng lực của từng cá nhân trong nhóm. Sự phân công thích hợp sẽ mang lại sự thành công hay thất bại của mỗi nhóm. + Mỗi thành viên trong nhóm đều có một vai trò, có tính phụ thuộc và liên kết với nhau, cùng nhau chia sẻ niềm vui chiến thắng hay nỗi buồn thất bại. Vì vậy các thành viên trong nhóm sẽ gắn bó với nhau do chính môi trƣờng làm việc tạo nên.
Yếu tố 2: Tương tác “mặt đối mặt”: Trong cách học tập này, HS thƣờng đƣợc bố trí ngồi đối diện với nhau tạo nên bầu không khí thoải mái, cở mở dễ dàng hợp tác với nhau. Chính cách sắp xếp này tạo nên những tác dụng tích cực đó là: + Tăng cƣờng tính tích cực trong hoạt động học tập, làm nảy sinh những hứng thú trong quá trình trao đổi bình đẳng với nhau. + Rèn luyện đƣợc những kỹ năng xã hội nhƣ cách diễn đạt ý tƣởng, cách cƣ xử, cách phản hồi ý kiến của bạn qua lời nói, ánh mắt, cử chỉ… + Phát triển mối quan hệ thân thiện với nhau, gắn bó, yêu thƣơng ,giúp đỡ lẫn nhau. Yếu tố 3: Trách nhiệm cá nhân: Mỗi thành viên trong nhóm đƣợc phân công nhiệm vụ khác nhau nhƣng có liên quan, phụ thuộc lẫn nhau để đạt mục tiêu chung của cả nhóm.
Do đó, mỗi thành viên đều phải nỗ lực và có trách nhiệm cá nhân trƣớc nhiệm vụ chung của cả nhóm. Mỗi thành viên có một vai trò nhất định những có thể thay đổi luân phiên cho nhau. + Nhóm trƣởng: Điều khiển hoạt động của cả nhóm, phân công nhiệm vụ phù hợp cho các thành viên trong nhóm. + Thƣ ký: Ghi chép lại tất cả các ý kiến của các thành viên trong nhóm, Tóm tắt các câu trả lời cho từng câu hỏi cho đến khi cả nhóm hài lòng và đi đến thống nhất.
z + Ngƣời điều khiển thời gian: Có nhiệm vụ nhắc nhở nhóm giới hạn về thời gian, điều chỉnh hoạt động của nhóm theo thời gian qui định. Yếu tố 4: Kỹ năng hoạt động nhóm: Để có thể cùng hoạt động cho một mục tiêu chung, mỗi thành viên trong nhóm cần có những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xã hội. Trong đó các kỹ năng xã hội có xu hƣớng đƣợc nâng cao đó là: kỹ năng quyết đoán, kỹ năng giải quyết các vấn đề bất đồng, biết cách lắng nghe, biết cách kiếm chế, biết cách bảo vệ quan điểm của mình một cách thuyết phục, qua đó tạo bầu không khí tin tƣởng, trao đổi, chấp nhận và ủng hộ lẫn nhau, giải quyết các mâu thuẫn của nhau trên tinh thần xây dựng. Yếu tố 5: Nhận xét nhóm: Sau mỗi lần hoạt động nhóm, các nhóm cần nhìn nhận lại toàn bộ quá trình hoạt động của nhóm mình.
Sự nhận xét của các thành viên trong nhóm sẽ là thông tin phản hồi cho các hoạt động sau của cả nhóm. Có hai hình thức kế tiếp nhau trong nhận xét nhóm: nhận xét của thành viên trong nhóm, nhận xét của GV và của nhóm bạn. Nội dung trong nhận xét nhóm có thể bao gồm: Hoạt động của thành viên nào có lợi cho nhóm; cách làm việc của nhóm đã hiệu quả chƣa; cần thay đổi nhƣ thế nào để lần sau hoạt động đƣợc hiệu quả hơn. Một số hình thức học hợp tác: Có những hình thức học hợp tác nhƣ sau: + Thi trò chơi theo đội: Hình thức này đã đƣợc nhiều nhà Giáo dục học thực hiện ở các trƣờng học cũng nhƣ các trung tâm tổ chức xã hội.
Chẳng hạn nhƣ trò chơi giải ô chữ về các nhà toán học hoặc về một chủ đề nào đó. + Thi kiến thức theo đội: Hình thức này đòi hỏi có sự nỗ lực học tập, hợp tác giữa các nhóm cao hơn thi trò chơi. HS có thể đƣợc thi kiểm tra trong giờ học hoặc trong một thời gian nhất định. Sau cuộc thi có tổng kết, xếp hạng và khen ngợi hay trao giải thƣởng để động viên các thành viên.
Ví dụ nhƣ thi giải nhanh các phƣơng trình đại số. + Kiểm tra theo nhóm: Các HS trong nhóm cùng hợp tác trao đổi, tự kiểm tra kiến thức cho nhau. + Chia sẻ theo cặp: GV đặt câu hỏi, HS ngồi lại từng cặp với nhau cùng trao đổi, hợp tác để trả lời câu hỏi. Các cặp trao đổi với nhau hoặc tùng cặp trao đổi với cả lớp.
z + Học ghép: Mỗi thành viên trong nhóm đƣợc nghiên cứu một phần trong nhiệm vụ của nhóm. Sau đó tổng hợp thành kết quả chung của cả nhóm. Chẳng hạn mỗi HS đƣa ra các cách tính tích phân của một loại hàm số, sau đó ghép lại thành phƣơng pháp tính tích cho các loại hàm số. [9] + Hợp tác - hợp tác: Phân các nhóm học sinh dạng không đồng nhất sau đó phân cho từng đội, mỗi đội một chủ đề khác nhau.
Trong từng nhóm lại phân chia nhiệm vụ cho từng thành viên. Việc đánh giá đƣợc trình bày theo ba cấp độ: các thành viên trong nhóm đánh giá các phần trình bày của từng cá nhân, HS trong lớp đánh giá phần trình bày của từng nhóm và cuối cùng GV đánh giá công việc và kiến thức của từng cá nhân. Tình huống dạy học hợp tác: 1. Khái niệm về tình huống dạy học hợp tác: Một tình huống dạy học đƣợc gọi là tình huống dạy học hợp tác nếu thoả mãn ba tiêu chí sau đây: - Tình huống phải có tác dụng gợi vấn đề; - Tình huống phải gợi cho HS nhu cầu hợp tác; - Tình huống phải tạo ra môi trƣờng hợp tác hiệu quả.
Chẳng hạn: Khi dạy học viết PT tiếp tuyến của đƣờng tròn trong mặt phẳng, GV có thể đƣa ra tình huống sau: Bài toán: Cho đƣờng tròn (C): tâm O và bán kính bằng 2. Viết PT tiếp tuyến của (C), biết tiếp tuyến đi qua điểm A(2;3). Bạn Ngọc giải bài toán trên nhƣ sau: Gọi ( ) là đt đi qua A và có hệ số góc k, khi đó PT ( ) có dạng: y-3=k(x-2) hay kx-y+3-2k=0 ( ) là tiếp tuyến của (C) d (O, ) R 3 2k 2 k 2 1 5 9 12k 4k 2 4(k 2 1) 12k 5 k . 12 Vậy PT tiếp tuyến là: 5x-12y+31=0.
Bạn Bình giải nhƣ sau: Gọi ( ) là đt đi qua A, khi đó PT ( ) có dạng: a(x-2)+b(y-3)=0, (a2+b2 0). Khi đó tiếp tuyến có pt là: x-2=0; + Nếu 5b+12a=0 thì chọn a=5 và b=-12. Khi đó tiếp tuyến có pt là: 5x-12y+31=0. Vậy có 2 tiếp tuyến với (C) là: x-2=0 và 5x-12y+31=0.
GV đƣa ra câu hỏi thảo luận: 1) Trong 2 cách giải trên, cách nào đúng? Giải thích? 2) Em hãy sửa chỗ sai cho bạn để đƣợc lời giải đúng. 3) Từ đó, em rút ra kinh nghiệm gì khi gặp dạng toán này? Trong tình huống trên, HS nhận thấy có mâu thuẫn là: cùng một bài toán, từ 2 cách giải khác nhau lại đƣợc 2 đáp số khác nhau. Nhƣ vậy, phải có ít nhất một lời giải là sai. Điều đó gợi sự tò mò làm cho HS ham thích tìm hiểu và giải quuyết vấn đề.
GV cần thiết kế những tình huống vừa sức với HS thì sẽ làm cho HS cảm thấy hứng thú và có niềm tin rằng mình sẽ giải quyết đƣợc vấn đề đó.