Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO MO HÌNH B-LEA RNING VỚI SỰ HO TRỢ CUA MOODLE 1.1 Tong quan về van đề nghiên cứu 1.1 Tổng quan về van đề nghiên cứu của đề tài trên thé giới Trong bối cảnh đại dich Covid-19 dạy học E-learning phát triển như một nhu cau tất yêu dé hoạt động GD vẫn có thê tiếp diễn. Dạy hoc E-learning đã tạo một môi trường học tập với đầy đú những học liệu số đa dạng phong phú như giáo trình điện tử, sách giáo khoa điện tử, tài liệu tham khảo điện tử, bài kiểm tra đánh giá điện tử, bản trình chiếu, bang dữ liệu. các tệp âm thanh, hình anh, video, bài giáng điện tử, phần mềm day hoe, thí nghiệm mô phỏng. Tuy nhiên sau đại dịch người ta dần nhận ra E-learning vẫn chứa nhiều bat cập như chưa hạn chế về mặt tương tác giữa GV và HS cũng như giữa HS với HS, HS khó khăn trong việc phát trién NL giao tiếp và hợp tác hay khiến người học thiếu đi ngưỡng biéu hiện về cảm xúc, khó khăn trong việc triển khai một số môn năng khiếu như mỹ thuật và âm nhạc, đỏi hỏi người học và người dạy phải có kỷ năng sử dụng máy tính rat cao.
Chính vì mọi người ta quan tâm đến dạy học kết hợp nhằm khắc phục những hạn chế của dạy học trực tuyến và trực tiếp cũng như những khó khăn của người dạy và người học. Nhà xã hội học Joanna Sikora chỉ ra rằng người học íthài lòng với các khóa học trực tuyên và các khóa học truyền thông. Cần kết hợp day học trực tiếp và trực tuyến dé có thể khắc phục những hạn chế của hai mô hình và khai thác lợi thé của ca hai. Chính vì lẽ đó, mô hình B-learning ra đời như sự phát trién tat yêu.
Hội đồng DH trực tuyên Bắc Mĩ iNACOL (North American Council for Online Learning) nay là Viện Aurora dự báo: “B-learning sẽ là mô hình DH chu đạo trong tương lai, B-learning can được nhìn nhận như một cách tiếp cận sư phạm, tích hợp được tính hiệu quả và các cơ hội xã hội trong lớp học với các khả năng thúc đây việc học tập tích cực có sự hỗ trợ của công nghệ trong môi trường trực tuyến chứ không chỉ thần túy là cách DH”. Có thê nói: “HTTCDH kết hợp đã phối hợp ưu điểm của DH trực tuyến và ưu điểm của DH truyền thong, nó đang nỗi lên như là mô hình giảng day chủ yéu của tương lai” (Watson, 2008) Việc áp dụng mô hình B-learning vào dạy học đã được nghiên cứu tư rất sớm ở các nước phương Tây đặc biệt là các nước phát triển như Hoa Kỳ. Hiện nay B- learning đã và đang được nghiên cứu rộng rãi triên khai trên nhiều quốc gia trên thé giới. Có thé coi, các nghiên cứu về B- learning chủ yếu tập trung vào: lí luận dạy học theo mô hình B-learning (mô hình, cấp độ kết hợp.
mức độ kết hợp .), ứng dụng mô hình B-learning vào dạy học và đánh giá hiệu quả của mô hình B-learning; thách thức va xu hướng phát triển của mô hình B-learning. Một số nghiên cứu, khảo sát trên điện rộng với số lượng người học thực hiện khảo sát lên đến hàng ngàn, hàng triệu nhằm đánh giá tính hiệu quả của mô hình day học kết hợp. Một số nghiên cứu tiêu biéu liên quan đến đề tài cần kể đến như: - Trong bai bao “B- learning: Uncovering its transformative potential in higher education” tac gia Randy D. Garrison va Heather Kanuka (2004) da phan tich tiềm năng thay đổi của mô hình B-learning trong bối cảnh có rất nhiều thách thức đặt ra cho các nhà GD .(Garrison & Kanuka, 2004) - Công trình nghiên cứu lí luận về mô hình B-learning của tác giả Charles R.
Graham và các cộng sự (2005) vừa nêu khái niệm về mô hình B-learning đồng thời nghiên cứu đẻ chỉ ra những lí do nên áp dụng mô hình B-learning vào dạy học, các mô hình B-learning, thách thức đối với dạy học theo mô hình B- learning, dự báo định hướng phát triển của mô hình B-learning. (Charles et al., 2005) - Cuộc khảo sát của Đại học Trung tâm Floria (Mỹ) vẻ thái độ của gần 1 triệu sinh viên (SV) trong giai đoạn 2008 - 2011 cho thay tỉ lệ SV đánh giá hải long ở mức độ cao (“tuyệt vời”/excellent) về mô hình B-learning so với hình thức day học truyền thông hoặc dạy học trực tuyến là cao hơn (52% so với 48%). Tuy độ chênh lệch không thật sự rõ rệt, nhưng tính trên tông số SV được khảo sát cũng là một con số đáng kể. (Moskal et al., 2013) - Vào nam 2014 trong bai báo “B-learning: A dangerous idea?” tác giả Alammary và cộng sự đã nghiên cứu về các mức của mô hình B-learning (Alammary et al.
Theo đó, mô hình B-learning có 3 mức độ dạy học: Mức 1: học tập trực tiếp đóng vai trò chủ đạo, trực tuyến đóng vai trò lồng ghép dưới đạng các nhiệm vụ học tập qua web, tự học qua internet theo hướng dẫn. Mức 2: học tập trực tiếp là 5 những hoạt động thực hành, trải nghiệm, thảo luận, giải đáp thắc mắc. Học tập trực tuyến tập trung vào quá tự học, tìm hiểu nội dung học tập, kiểm tra, đánh giá, thảo luận trên lớp học ao. Mức 3: triển khai mức độ 2 một cách có hệ thông bao gồm cả kiểm tra, đánh giá theo chuẩn đầu ra của khóa học.
- Trong bài báo “The effects of B-learning on K-12th grade students”, tác giả Kazu và Demirkol (2017) đưa ra kết qua nghiên cứu các HS trong nhóm học tập kết hợp, có quyên truy cập vào một lớp học B-learning cho phép họ tra lời câu hoi, tương tác và ghi chú một cách cộng tác, đã đạt điểm cao hơn có ý nghĩa thống kê vẻ bài kiểm tra so với HS trong nhóm đối chứng. Kazu và Demirkol cũng đã nghiên cứu xem có hay không việc giới tính đóng một vai trò quan trọng trong kết học tập của HS. Kết quả, họ nhận thay rang HS nữ dat điểm cao hon trong ca hai nhóm (nhóm học tập theo mô hình B-learning và nhóm học tập theo hình thức giáp mat) đông thời không có bằng chứng đáng kể nào cho thấy một hình thức học tập hiệu quả hơn cho một giới tính.(Hessc, 2017) Ngoài những bài báo nôi bậc trên, trên thể giới cũng có rat nhiều bài nghiên cứu về phương pháp dạy học theo mô hình B-learning đặc biệt là hiệu quả và những hạn chế của mô hình này. Tùy vào đối tượng HS mà các nhà nghiên cứu có những dé xuất mô hình DH kết hợp theo mô hình B-learning phù hợp.
Từ đó đưa ra cách thiết kế, tô chức dạy học, kiểm tra đánh giá nhằm khác phục những hạn chế và phát huy tôi ưu những wu thế mà mô hình B-learning đem lại.2 Tổng quan về mô hình dạy học B-learning. Ở Việt Nam mô hình B-learning bắt đầu phát triển khoảng 10 năm gan đây, đã có các nghiên cứu về mô hình B-learning đặc biệt là trong những năm gần đây mô hình B-learning nỗi lên như một xu thé GD hội nhập quốc tế. Hội thảo “Ung dụng công nghệ thông tin trong học tập hỗn hợp đáp ứng yêu cầu của chương trình GD phô thông mới” do DH Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) và trường Phô thông liên cấp Olympia tổ chức tháng 12 năm 2015 được coi là hội thảo chính thức đầu tiên bàn về mô hình B-learning ở Việt Nam. Hội thảo đã góp phần làm rõ khái niệm.
thế mạnh của mô hình B-learning và các biện pháp triển khai mô hình B-learning ở Việt Nam 6 và có một số kinh nghiệm ban đầu về thiết kế khóa học theo mô hình B-learning, bài giảng, PPDH, đánh gid,.Bén cạnh đó có nhiều nghiên cứu khoa học về B-learning, những luận văn thạc sĩ, tiễn sĩ, hay khóa luận tốt nghiệp đã phan nào làm rõ khái niệm mồ hình B-learning, các hình thức, loại mô hình B-learning và vận dụng mô hình B- learning vào dạy học, cụ thé phải kể đến như: - “Van dụng mô hình B-learning vào day học một số kiến thức chương “cdc định luật bảo toàn ”— Vật lí 10 trung học pho thông” (Đỗ Nhu Thiên, 2015). Trong luận văn này, tác giả đã đề xuất qui trình vận dụng mô hình B-learning vào dạy học chương “Cac định luật bảo toàn” dé phát triển NL giải quyết van đề cho HS và tác giả sử dụng phần mém Moodle để làm kênh tương tác giữa GV với HS và HS với HS. - Luận văn Thạc sĩ: “Xây dựng mô hình học kết hợp đề day sinh học 10 (THPT) nâng cao Với sự hỗ trợ của phần mềm Moodle” (Phạm Xuân Lam, 2010), tác giả đã tiếp cận mô hình B-learning như một hình thức tô chức day học. Bên cạnh đó, tác giả cũng dé xuất lộ trình triển khai mô hình B-learning thông qua ba bước: làm quen, thử và triển khai.
Nhưng tác giả chi tập trung thực hiện bước 1 và bước 2, tức là chi giúp HS làm quen với phan mềm hỗ trợ và tiến hành triển khai thí điểm một số nội dung sau đó xem xét kết quả và rút ra một số nhận định làm cơ sở cho sự điều chỉnh, cải tiền. Ngoài ra, có các bài báo khoa học nghiên cứu vé mô hình B-learning như: - Bài báo khoa học của tác giả Tô Nguyên Cương “Day học kết hợp - Một hình thức tô chức day học tat yếu của một nền GD hiện dai” vào năm 2012. Trong bài báo này, tác giá đã đưa ra những luận điểm chứng minh mô hình B-learning sẽ là xu thé tat yếu cần được nghiên cứu và phát triển nhằm tối ưu hóa quá trình học tập của HS, từ đó đôi mới nhằm nâng cao chất lượng day và học. (Cương, 2016) - Năm 2017 trong bài báo “B-learning trong dạy học hóa học ở trường trung học phô thông” tác giả Nguyễn Hoàng Trang đã dé xuất quy trình tô chức dạy hoctheo mô hình B-learning chủ đề “Phan bón hóa học” học kỳ I lớp 11.
Bài báo cũng kết luận việc vận dụng mô hình này giúp HS ngoài việc nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức ấy vào thực tiễn còn phát huy được những phâm chat cá nhân như chủ động tìm kiếm, tông hợp thông tin qua mạng Internet. vận dụng được các kỹ năng sử dụng 7 CNTT trong học tập. Việc xây dựng chủ dé dạy học theo mô hình B-learning cũng như thiết các hoạt động day học phù hợp tuy không dé nhưng có thé thực hiện được. (Nguyễn Hoàng Trang, 2017) - Trong bài báo “ Mô hình B-learning thích hợp như thé nào trong GD đại học khối kinh tế?