CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH 5E VÀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TÌM HIỂU TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ. Cơ sở lí luận về năng lực, năng lực tìm hiểu tự nhiên 1. Khái niệm Có rất nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về năng lực. Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: NL là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Theo [3] Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường (2014), giải thích là: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê [4] có giải thích: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Theo Weinert (2001), "Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động 10 cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt ". Hai đặc điểm phân biệt cơ bản của năng lực là: Tính vận dụng (1); tính có thể chuyển đổi và phát triển (2).
Đó chính là mục tiêu mà dạy học tích cực hướng đến. Trong đề tài này em sử dụng định nghĩa năng lực đã được trình bày trong “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ GD và ĐT đã công bố : “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều 7 kiện cụ thể”[5]. Như vậy, NL không được định lượng một cách rõ ràng nhưng nó được thể hiện ra là các biểu hiện và thông qua đánh giá những biểu hiện đó có thể định lượng được NL của người học. NL là tổng hợp các thuộc tính tâm lí của con người bao gồm kiến thức, kĩ năng, khả năng, nhận thức cá nhân và thái độ nhằm đáp ứng với một hoạt động được đặt ra nào đó, giúp con người giải quyết được vấn đề nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Đặc điểm của năng lực - Năng lực mang tính cá nhân, có sự tác động của một cá nhân tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội,.) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác. - Năng lực thông qua hành động, nó là một yếu tố được cấu thành trong một hoạt động cụ thể. Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể. Năng lực vừa là mục tiêu vừa là kết quả hoạt động.
- Năng lực được đánh giá bằng một kết quả/hiệu quả cụ thể, nó đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do con người thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân,… không tồn tại năng lực chung chung). Cấu trúc chung của năng lực Từ khái niệm và phân tích đặc điểm của năng lực, việc xác định cấu trúc chung của năng lực theo các tiếp cận sau: - Về bản chất: năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức hợp lý các kiến thức, kĩ năng với thái độ giá trị, động cơ. nhằm đáp ứng yêu cầu phức tạp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó có chất lượng trong một bối cảnh (tình huống) nhất định. - Về mặt biểu hiện: năng lực biểu hiện bằng sự biết sử dụng các kiến thức, kĩ năng, thái độ và giá trị động cơ trong một tình huống có thực chất không phải là sự tiếp thu tri thức rời rạc tách rời tình huống thực tức là thể hiện trong hành vi, hành động và sản phẩm có thể quan sát được.
- Về thành phần cấu tạo: năng lực được cấu thành bởi các thành tố kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị, tình cảm và động cơ cá nhân, tư chất. 8 Vậy, dựa vào thành phần cấu tạo của năng lực là tổ hợp của các thành tố kiến thức, kỹ năng, thái độ thì cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: năng lực chuyên môn (Professional competency); năng lực phương pháp (Methodical competency); năng lực xã hội (Social competency); năng lực cá thể (Individual competency). - Năng lực chuyên môn: Khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn (Bao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp và trừu tượng, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình). - Năng lực phương pháp: Là khả năng hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.
Trung tâm của năng lực phương pháp là những phương thức nhận thức, xử lí, đánh giá, truyền thụ và giới thiệu trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – Giải Quyết Vấn Đề. - Năng lực xã hội: Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau với sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Trọng tâm là: + Ý thức được trách nhiệm của bản thân cũng như của những người khác, tự chịu trách nhiệm, tự tổ chức.
+ Có khả năng thực hiện các hành động xã hội, khả năng cộng tác và giải quyết xung đột. - Năng lực cá thể: Khả năng xác định, suy nghĩ và đánh giả được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của mình, phát triển được năng khiếu cá nhân cũng như xây dựng kế hoạch cho cuộc sống riêng và hiện thực hóa kế hoạch đó; những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các hành vi ứng xử. Ta có thể mô tả cấu trúc của năng lực hành động hoặc cấu trúc chung của năng lực bằng sơ đồ sau: 9 Hình 1. Sơ đồ cấu trúc chung của năng lực Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn mục tiêu giáo dục (bốn trụ cột giáo dục) theo UNESCO đã nêu ra.
Ta có thể mô tả bằng sơ đồ sau: CÁC THÀNH PHẦN CÁC MỤC TIÊU GIÁO NĂNG LỰC DỤC THEO UNESCO Năng lực chuyên môn Học để biết Năng lực phương pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để cùng chung sống Năng lực cá thể Học để khẳng định Hình 1. Sơ đồ phát triển năng lực là mục tiêu giáo dục 10 Như vậy, giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không thể tách rời nhau mà có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và tổng hòa vào nhau tạo nên những năng lực cụ thể của con người. Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà phải có những nhóm nội dung để phát triển các năng lực thành phần khác.
Cụ thể là: Bảng 1. Nhóm nội dung phát triển các năng lực thành phần - Các tri thức chuyên môn. - Các kĩ năng chuyên Học nội dung chuyên môn Năng lực chuyên môn môn. - Ứng dụng , đánh giá chuyên môn.
- Lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc. - Các phương pháp nhận Học phương pháp – chiến thức chung: thu thập, Năng lực phương pháp lược xử lí, đánh giá, trình bày thông tin. - Các phương pháp chuyên môn. - Làm việc trong nhóm.
- Tạo điều kiện cho sự hiểu biết về phương diện xã hội. Học giao tiếp – xã hội Năng lực xã hội - Học cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột. 11 - Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu. - Xây dựng kế hoạch Học tự trải nghiệm – đánh phát triển cá nhân.
Năng lực các thể giá - Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức văn hóa, lòng tự trọng… 1. Các năng lực cần phát triển cho học sinh trung học cơ sở NL chung và NL chuyên môn cần hình thành và phát triển cho HS phổ thông nói chung và HS THCS nói riêng được Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo công bố 12/2018 bao gồm: NL chung là NL mà tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành và phát triển gồm: NL tự chủ và tự học; NL giao tiếp và hợp tác; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo; NL chuyên môn là NL được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định gồm: NL ngôn ngữ; NL tính toán; NL tìm hiểu tự nhiên; NL công nghệ; NL tin học; NL thẩm mĩ và NL giáo dục thể chất. Ở cấp THCS trong CTGDPT môn Khoa học tự nhiên (KHTN) năng lực KHTN bao gồm 3 thành phần là nhận thức KHTN; Tìm hiểu tự nhiên và Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Vậy NL THTN là gì.
Năng lực tìm hiểu tự nhiên 1. Khái niệm Trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm tự nhiên là gì? Theo Wikipedia - Tiếng Việt [6], Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. Nói đến "Tự nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp độ vi mô nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ.
12 Năng lực tìm hiểu tự nhiên: là khả năng thực hiện được một số kĩ năng cơ bản để tìm hiểu, giải thích sự vật hiện tượng trong tự nhiên và đời sống.