Mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về lý thuyết kiến tạo trong dạy học - Chƣơng 2: Thực trạng day học môn Công nghệ 11 tại trƣờng THPT Long Xuyên, tỉnh An Giang - Chƣơng 3: Tổ chức dạy học theo lý thuyết kiến tạo môn Công nghệ 11 tại trƣờng THPT Long Xuyên, tỉnh An Giang - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC 1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 1. Trên thế giới Tƣ tƣởng về dạy học kiến tạo đã có từ lâu, nhƣng lý thuyết kiến tạo đƣợc phát triển từ khoảng những năm sáu mƣơi của thế kỷ XX và đặc biệt đƣợc chú ý từ cuối thế kỷ XX. Nhà giáo dục, nhà triết học Socrates là ngƣời đầu tiên nghiên cứu và phát triển lý thuyết kiến tạo, với ông việc dùng các câu hỏi trực tiếp dẫn dắt ngƣời học tự nhận ra điểm yếu trong suy nghĩ của họ chính là khái niệm đầu tiên về kiến tạo.
Trong những năm khoảng thế kỷ XVII, J. Komenxki (John Amos Comenius, 1592 – 1670) đã đƣa ra những biện pháp dạy học bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm đƣợc bản chất của sự vật và hiện tƣợng. Theo Komenxki: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách…hãy tìm ra phƣơng pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, HS phải học nhiều hơn”[26,tr2]. Tiếp theo dòng phát triển của lý thuyết kiến tạo, Jean – Jacques Rousseaus (1712 – 1778) cũng cho rằng phải hƣớng HS tích cực tự giành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.
Lý thuyết kiến tạo có sự phát triển mới khi Jean Piaget và John Dewey phát triển các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em. Jean Piaget cho rằng: “con người học tập thông qua việc thiết lập những chuỗi logic liên tiếp nhau, câu này nối câu kia” và ông cũng kết luận: “logic cũng như những phương thức suy nghĩ của trẻ em hoàn toàn khác so với người trưởng thành” [27, tr 2]. Đây chính là cơ sở cho việc giáo dục dựa trên lý thuyết kiến tạo. John Dewey yêu cầu giáo dục phải dựa trên kinh nghiêm thực tế.
Ông viết: “Nếu nghi ngờ rằng quá trình học diễn ra như 6 thế nào, hãy tham gia vào các câu hỏi liên tiếp, nghiên cứu, suy nghĩ, cân nhắc các khả năng khác nhau, từ đó hình thành niềm tin dựa vào các bằng chứng cụ thể” [27, tr 6]. Các triết gia, nhà tâm lý học có công trong việc tạo thêm những triển vọng mới cho lý thuyết kiến tạo và áp dụng lý thuyết kiến tạo vào thực tiễn là: John Dewey, Lev Vygotsky, Jerome Bruner, và David Ausubel. Vygotski đã đƣa khía cạnh xã hội của việc học vào lý thuyết kiến tạo, trong suốt quá trình phát triển của trẻ em thƣờng xuyên diễn ra hai mức độ: trình độ hiện tại và vùng phát triển gần nhất. Trình độ hiện tại là trình độ, mà ở đó các chức năng tâm lí đã đạt tới độ chín muồi, còn ở vùng phát triển gần nhất các chức năng tâm lí đang trƣởng thànhnhƣng chƣa chín muồi.
Trong thực tiễn, trình độ hiện tại biểu hiện qua việc trẻ em độc lập giải quyết nhiệm vụ, không cần bất kì sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, còn vùng phát triển gần nhất đƣợc thể hiện trong tình huống trẻ hoàn thành nhiệm vụ khi có sự hợp tác, giúp đỡ của ngƣời khác, mà nếu tự mình thì không thể thực hiện đƣợc. Nhƣ vậy, hai mức độ phát triển trẻ em thể hiện hai mức độ chín muồi ở các thời điểm khác nhau, đồng thời chúng luôn vận động: vùng phát triển gần nhất hôm nay thì ngày mai sẽ trở thành trình độ hiện tại và xuất hiện vùng phát triển gần nhất mới.Theo Vygotski, dạy học và phát triển phải gắn bó hữu cơ với nhau. Dạy học phải đi trƣớc quá trình phát triển, tạo ra vùng phát triển gần nhất, là điều kiện bộc lộ sự phát triển. Chỉ có nhƣ vậy hoạt động dạy học mới đạt hiệu quả cao và đó mới là việc “dạy học tốt”.
Để tổ chức dạy học theo quan điểm trênđòi hỏi GV cần cung cấp những hỗ trợ ban đầu cho HS, nhƣng không nên tiếp tục can thiệp sâu khi HSđã có khả năng làm việc độc lập. Trong thực tiễn cần lƣu ý dạy học không đi trƣớc quá xa so với sự phát triển, nhƣng dạy học không đƣợc đi sau sự phát triển. Vygotski còn nhấ n ma ̣nh rằ ng văn hóa , ngôn ngƣ̃ và các tƣơng tác xã hội cũng tác động đến việc kiến tạo nên tri thức của mỗi cá nhân. Đề cập tới lý thuyết kiến tạo, theo J.
Bruner cũng cho rằng không có kiến thức khách quan tuyệt đối. Kiến thức là một quá trình và là sản phẩm đƣợc kiến tạo theo từng cá nhân (tương tác giữa đối tượng học tập và người học) [27, tr8]. Về mặt 7 nội dung, dạy học phải định hƣớng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, đƣợc khảo sát một cách tổng thể. Việc học tập chỉ có thể đƣợc thực hiện trong một quá trình tích cực, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và khả năng đã có.
Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng góp phần cho ngƣời học tự điều chỉnh học tập của bản thân mình. Học qua sai lầm là điều rất có ý nghĩa; các lĩnh vức học tập cần định hƣớng vào hứng thú ngƣời học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ những kinh nghiệm mà ngƣời ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức. Lý thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí mà còn phát triển cả về mặt tình cảm, giao tiếp; Mục đích học tập là xây dựng kiến thức của bản thân nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hƣớng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức tạp.
Như vậy:Lý thuyết kiến tạo và việc vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học đƣợc nhiềunhà giáo dục trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Đây là một trong những quan điểm giáo dục hiện đại, góp phần tích cực trong việc rèn luyện kỹ năng tự học, tự phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS. Những nhà giáo dục hiện đại trên thế giới đã nghiên cứu, viết và áp dụng lý thuyết kiến tạo vào giáo dục bao gồm: John D. Bransford, Ernst von Glasersfeld, Eleanor Duckworth, George Forman, Roger Schank, Jacqueline Grennon Brooks và Mathin G.
Tại Việt Nam Ngành giáo dục nƣớc ta đang thực hiện nhiều đổi mới về dạy học ở trƣờng phổ thông, trong đó đặc biệt quan tâm đổi mới phƣơng pháp dạy họctheo hƣớng áp dụng những phƣơng pháp dạy học có nhiều tiềm năng bồi dƣỡng cho HS năng lực tƣ duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề. Trong việc vận dụng các quan điểm dạy học mới dạy học theo quan điểm của lý thuyết kiến tạo đã và đang đƣợc quan tâm nghiên cứu. Từ năm 1993, Nghị quyết TW IV khóa VII (14-01-1993)đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”.Nghị quyết khẳng định:“Đổi mới phương pháp 8 dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học,….áp dụng những phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”[23]. Nghị quyết hội nghị TW IV đã đánh dấu một mốc mới trong việc đổi mới phƣơng pháp dạy học.
Trong hơn 10 năm trở lại đây, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cũng đã yêu cầu các cơ sở giáo dục và đào tạo chuyển đổi mục tiêu, chƣơng trình, giáo trình, nội dung, phƣơng pháp, lƣợng giá theo hƣớng giảng dạy tích cực và theo hƣớng lấy ngƣời học làm trung tâm. GV không chỉ giảng dạy những kiến thức có sẵn mà còn tổ chức cho HS lĩnh hội những kiến thức và rèn luyện kỹ năng để đáp ứng đƣợc các nhu cầu của ngành nghề xã hội. Khái quát về lý thuyết kiến tạo trong dạy học, người nghiên cứu nhận thấy các công trình tập trung vào các vấn đề sau: Thứ 1. Các công trình đề cập tới cơ sở lý luận về lý thuyết kiến tạo và Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học Đại diện khuynh hƣớng này ngƣời nghiên cứu đƣa ra tác giả Giáo sƣ Nguyễn Quang Lạc với đề tài, “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong đổi mới phương pháp dạy học vật lý” [12].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu lý thuyết kiến tạo trong hoạt động nhận thức và trong hoạt động học tập. Với nên tảng lý thuyết đã có, tác giả đã vận dụng lý thuyết kiến tạo vào trong dạy học môn Vật lý ở trƣờng phổ thông. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy: dạy học kiến tạo là phải tổ chức quá trình dạy học một kiến thức cụ thể sao cho gần gũi với tiến trình hoạt động nghiên cứu xây dựng chính kiến thức đó trong thực tiễn. Trong quá trình đó HS đƣợc khuyến khích và đƣợc hƣớng dẫn để đóng vai nhà nghiên cứu trẻ để tự nghiên cứu kiến thức cho mình.
Dạy học kiến tạo cũng đòi hỏi GV phải có vốn sống và những kinh nghiệm nghề nghiệp cùng với kỹ năng tổ chức, điều khiển lớp học ở mức độ nhất định [12, tr 24]. Tác giả Hồ Thị Mỹ Dung đã: “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học chương dẫn xuất Halogen, Alcol, Phenol hóa học 11 THPT” (2011), [7]. 9 Tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, khảo sát và đánh giá kết quả học tập của HS khối lớp 11 THPT. Đây là cơ sở kho học để tác giả vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học môn Hóa học 11 khối lớp THPT nhằm phát huy tính tự học, tự nghiên cứu của HS.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Việc vận dụng một số phƣơng pháp dạy học tích cực đã phát huy tính năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS. Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, tác giả đã đề xuất các phƣơng pháp dẫn HS: tự học, thảo luận nhóm, đọc tài liệu. Về phía giáo viên đã hƣởng ứng tích cực và thấy đƣợc sự cần thiết và đổi mới trong cách dạy và cách học trƣớc yêu cầu đổi mới giáo dục một cách toàn diện.