đặt vấn đề về vai trò của chính việc giảng dạy trong tiến trình phát triển và sự chín muồi của các chức năng nào được tích cực hóa trong tiến trình giảng dạy. Sự phát triển, sự chín muồi các chức năng đó chỉ là tiền đề, chứ không phải là kết quả của giảng dạy. Giảng dạy đặt lên trên sự phát triển, vì cơ bản chẳng thay đổi gì trong phát triển” [3, tr. Như thế, quan điểm của nhóm này dễ gây ngộ nhận rằng, dạy học đi theo sau sự phát triển, và như thế tương ứng với một trình độ phát triển nào đó thì kiến thức truyền dạy hay các bài tập dành cho học sinh không được vượt qua trình độ hiện có của chúng.
Nhóm thứ hai, các tác giả thuộc nhóm này quan niệm rằng dạy học đồng nhất với phát triển. Đánh giá về quan niệm này, L.Vygotxki nhận xét: “thoạt nhìn có cảm giác quan điểm này tiến bộ hơn hẳn quan điểm trên, vì trong khi quan điểm tách biệt hoàn toàn các quá trình dạy học và phát triển, thì quan điểm này gán cho dạy học ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, khi xem xét kĩ lưỡng nhóm giải pháp thứ hai cho thấy rằng, trong toàn bộ sự đối lập của hai quan điểm, vẫn có sự trùng hợp và rất giống nhau về vấn đề cơ bản” [18, tr. Nếu chú ý đến mối quan hệ thời gian, thì quan điểm này trái ngược với quan điểm trên vì theo như các tác giả của lý thuyết thứ nhất, các giai đoạn phát triển đi trước các quá trình giảng dạy, sự chín muồi đi trước giảng dạy.Vygotxki tiếp tục nhận xét: “Đối với nhóm lý thuyết này, sự phát triển và dạy học trùng hợp với nhau trong mọi điểm như hai 11 hình hình học bằng nhau, xếp chồng cái nọ lên cái kia.
Như vậy câu hỏi ở đây cái gì đi trước cái gì đi sau đã trở thành vô nghĩa. Tính đồng bộ đã trở thành giáo điều của các lý thuyết loại này. Điều đó có nghĩa là, một khi dạy học và phát triển được đồng nhất, nghĩa là không có yếu tố nào làm động lực cho yếu tố nào và rốt cuộc dạy học cũng không thúc đẩy sự phát triển, thậm chí là chúng không có mối liên hệ gì với nhau. Như vậy, quan điểm này không có điểm gì tiến bộ hơn so với quan điểm trên.
Nhóm thứ ba, đã cố gắng khắc phục tính cực đoan của cả hai nhóm trên, bằng cách đơn giản kết hợp chúng với nhau. Một mặt, cho rằng quá trình phát triển như một quá trình độc lập với dạy học, mặt khác chính dạy học, mà trong quá trình của nó, trẻ em nhận được hàng loạt hình thức hành vi mới, có sự trùng hợp với phát triển. Bằng cách đó, nhóm này đã tạo ra thuyết nhị nguyên về sự phát triển… L.Vygotxki cho rằng nhóm thứ ba có ba điểm mới: “Một là, có sự kết hợp hai quan điểm đối lập. Chính sự liên kết đã nói lên rằng chúng không có tính chất đối lập, loại trừ nhau mà có cái gì đó chung về bản chất.
Thứ hai, là tư tưởng về sự loại trừ lệ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau của hai quá trình cơ bản, mà đó là sự phát triển được hình thành. Quá trình dạy học hình như là kích thích thúc đẩy quá trình chín muồi về phía trước. Điểm cơ bản thứ ba của lý thuyết này là mở rộng vai trò của dạy học trong quá trình phát triển…” [18, tr. Thông qua việc phân tích ba nhóm quan điểm trên, L.Vygotxki đã vạch ra cách giải quyết đúng đắn hơn cho vấn đề quan hệ giữa dạy học và phát triển.
Ông nhận định rằng: “Việc dạy học bằng cách này hay cách khác cần phải phù hợp với trình độ phát triển của trẻ - là một sự kiện được phát hiện và kiểm tra bằng thực nghiệm nhiều lần. Đó là sự kiện không thể bàn cãi được. Việc dạy trẻ viết chính tả chỉ bắt đầu từ một độ tuổi nhất định, và cũng chỉ từ độ tuổi nhất định trẻ mới có khả năng nghiên cứu đại số” [18, tr. Tuy nhiên, ông cho rằng, muốn xác định mối quan hệ thực sự giữa quá trình phát triển với khả năng học tập thì phải xác định ít nhất hai trình độ phát triển của trẻ em: trình độ phát triển hiện tại và vùng phát triển gần nhất.
Trình độ phát triển hiện tại là trình độ phát triển các chức năng tâm lý của trẻ được hình thành như là kết quả 12 của các thời kì phát triển nhất định đã hoàn tất, được đánh giá thông qua khả năng độc lập giải quyết công việc của trẻ. Ông dẫn ra ví dụ về hai đứa trẻ có tuổi khôn như nhau (7 tuổi) nhưng một em chỉ cần sự giúp đỡ nhỏ cũng giải được bài tập dành cho trẻ 9 tuổi, còn em kia chỉ có thể giải được bài tập cho trẻ bảy tuổi rưỡi. Và như vậy, chỗ trẻ có khả năng thực hiện với sự giúp đỡ của người lớn – đó chính là vùng phát triển gần của trẻ. Ngược lại với các nhóm quan điểm về phát triển khác, L.Vygotxki kết luận: “chỉ có cách dạy nào đi trước sự phát triển mới là tốt” [18, tr.
Trên cơ sở đó, ông phê phán quan điểm dạy học cũ, được định hướng theo trình độ phát triển của trẻ và chỉ giới hạn ở đó, không vượt ra ngoài phạm vi của trình độ đó như sau: “Dạy học định hướng vào các chu trình phát triển đã kết thúc tỏ ra không có hiệu lực, theo quan điểm phát triển chung của trẻ em, không đưa đến quá trình phát triển mà chỉ bám theo đuôi nó” [18, tr. Và ông cũng dẫn ra bài học chua xót từ việc dạy học cho trẻ chậm phát triển trí tuệ trước đây ở Liên Xô cũ: “Như đã biết, các công trình nghiên cứu đã xác định rằng, trẻ chậm phát triển trí tuệ có khả năng tư duy trừu tượng kém. Từ đó công tác dạy học của các trường chuyên dạy trẻ khuyết tật đã rút ra kết luận có vẻ đúng đắn là việc dạy trẻ cần phải dựa vào tính trực quan. Tuy nhiên, kinh nghiệm rất lớn trong quan hệ này đã làm cho nền giáo dục trẻ có tật bị thất vọng sâu sắc.
Hóa ra là, hệ thống dạy học hoàn toàn dựa trên tính trực quan không những không giúp trẻ khắc phục được những khiếm khuyết tự nhiên, mà còn củng cố khiếm khuyết đó, gắn trẻ hoàn toàn vào tư duy trực quan và chôn sâu tất cả những mầm mống yếu ớt của tư duy trừu tượng có trong trẻ” [18, tr. Một cách chung nhất, khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa dạy học và phát triển L.Vygotxki đưa ra hai luận điểm quan trọng: Thứ nhất, các quá trình phát triển không trùng hợp với các quá trình dạy học, rằng các quá trình phát triển đi liền sau quá trình dạy học, tạo ra vùng phát triển gần nhất. Thứ hai, dạy học và phát triển không bao giờ diễn ra một cách đồng đều và song song với nhau. Vùng phát triển gần nhất và dạy học vùng phát triển gần nhất.
Khái niệm vùng phát triển gần nhất 13 Khái niệm vùng phát triển gần (the Zone of Proximal Development) do L.Vygotxki đưa ra trong một bài giảng vào tháng 3 năm 1933. Sau này, Harry Daniels và Hammond Jenifer dẫn khái niệm vùng phát triển gần ở trang 86 trong tác phẩm Vygotxki - 1978 như sau: “Vùng phát triển gần là khoảng cách giữa trình độ phát triển hiện tại của người học được xác định qua việc giải quyết vấn đề một cách độc lập và trình độ phát triển tiềm tàng được xác định thông qua sự hướng dẫn của người lớn hay cộng tác với các thành viên cùng trang lứa có khả năng hơn. Minh họa vùng phát triển gần nhất Việc giải quyết một vấn đề nào đó liên quan chặt chẽ đến trình độ của học sinh. Với trình độ phát triển hiện tại, trẻ có thể tự mình hoàn tất công việc tương ứng với tuổi trí tuệ của chúng.
Nhưng nếu công việc khó khăn hơn một chút thì chúng thường không thể hoàn tất trên khả năng của chính bản thân mà cần có sự hỗ trợ của người có nhiều kinh nghiệm hơn, thường là người lớn mà ở trường học chính là các thầy cô giáo. Ở một mức độ nào đó, khi trẻ tự hoàn tất một công việc nào đấy thì coi như sự phát triển liên quan đến các kĩ năng đáp ứng cho công việc đã kết thúc một giai đoạn của nó để bước sang một giai đoạn mới ở trình độ cao hơn gần đó. Chúng ta dạy là tổ chức cho trẻ làm việc trong vùng này để tạo cơ hội cho nó hoàn tất chu trình một cách tương tự như trước đó. Các giáo viên và các bậc cha mẹ đóng vai trò hướng dẫn trẻ em đạt được khả năng trong một nhiệm vụ cụ thể cung cấp thông tin phản hồi về tiến độ phát triển của trẻ.
Như vậy, vùng phát triển gần nhất đặc trưng bởi sự khác biệt giữa khả năng mà trẻ có thể tự giải quyết và cái mà nó sẽ làm được nhờ sự giúp đỡ của người lớn, của giáo viên. Như ông đã đưa ra ý kiến: vấn đề trung tâm của tâm lý học giảng dạy 14 chính là làm sao cho trẻ tự nâng cao khả năng hợp tác với người lớn lên trình độ cao hơn của các khả năng trí tuệ, tức là toàn bộ ý nghĩa của giảng dạy là làm cho trẻ phát triển; giảng dạy là một nguồn chủ yếu để phát triển các khái niệm ở trẻ, là một lực lượng mạnh nhất định hướng và quyết định toàn bộ sự phát triển trí tuệ của chúng. Khái niệm vùng phát triển gần mà L.Vygotxki đưa ra đã mở ra một hướng dạy học mới có nhiều triển vọng, dạy học có nhiều sự hỗ trợ và sự hỗ trợ đó nhằm giúp các em tiếp thu kiến thức trên chính khả năng của mình. Dạy học trong vùng phát triển gần nhất L.Vygotxki đã đưa ra khái niệm vùng phát triển gần nhất trong một bài giảng vào năm 1933, một năm trước khi ông mất và cách thức tiến hành dạy học trong phạm vi VPTGN vẫn là một bí mật.
Do đó, việc vận dụng nó vào quá trình dạy học thật sự không đơn giản. Vậy dạy học vùng phát triển gần nhất có phải là một phương pháp hay không? Để trả lời cho câu hỏi này một số nhà tâm lý giáo dục học sau này như Mercer, Bruner…đã cố gắng tìm cách thức tiến hành dạy học trong vùng phát triển gần và đã thu hút sự quan tâm đông đảo của các nhà sư phạm trên thế giới.