Chương I, Điều 5). “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của HS” (Luật Giáo dục năm 2005, Chương II, Điều 28). Như vậy, đổi mới PPDH theo hướng tích cực chính là thay đổi PPDH làm tích cực hóa hoạt động học tập của HS. Định hướng này làm thay đổi cách thức dạy học của thầy, thay đổi phương pháp học tập của trò, chuyển từ học tập thụ động sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từng bước chuyển dần PPDH theo hướng biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biến quá trình dạy học thành quá trình tự học.
Khi đó GV sẽ là người đưa ra những gợi mở cho một vấn đề và cùng HS bàn luận, tìm ra mấu chốt vấn đề cũng như những vấn đề liên quan từ đó HS sẽ tự hình thành tri thức và chiếm lĩnh chúng. Từ định hướng đổi mới này ta có thể hình thành mô hình phương pháp dạy học theo hướng tích cực như sau: 7 Mô hình phương pháp dạy học tích cực Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS có nghĩa là cần thực hiện các nội dung sau: - Cần xác lập vị trí chủ thể của người học, bảo đảm phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của người học trong quá trình học tập. + Người học là chủ thể kiến tạo kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật bị động hoàn toàn làm theo mệnh lệnh của thầy giáo. Với định hướng “tích cực hóa hoạt động của người học”, vai trò chủ thể của người học được khẳng định trong quá trình học tập trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân mình.
Ví dụ: Trong chương trình môn Toán ở Tiểu học, khi HS học công thức tính diện tích một hình thì GV sẽ là người tổ chức hướng dẫn HS tự hình thành công thức chứ không phải GV chỉ truyền đạt công thức theo lối một chiều như vậy sẽ không đảm bảo việc tích cực hóa việc học tập của HS theo định hướng đổi mới. + Tính tự giác, tích cực của người học từ lâu đã trở thành một nguyên tắc của giáo dục học xã hội chủ nghĩa bởi nó không mới nhưng vẫn chưa được thực hiện trong cách dạy học “thầy đọc trò chép” vẫn còn đang rất phổ biến hiện nay. Do đó, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị. Khi nói “tích cực hóa hoạt động của người học”, ta hiểu đó là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của người học thể hiện ở chỗ HS học tập thông qua những hoạt động được hướng đích và gợi động cơ để biến nhu cầu của xã hội chuyển hóa thành nhu cầu nội tại của chính bản thân mình.
Hoạt động học tập tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo không chỉ là đòi hỏi mà còn tạo niềm vui. Niềm vui này có thể có được bằng nhiều cách khác nhau như động viên, khen thưởng,… nhưng quan trọng nhất vẫn là niềm lạc quan dựa trên lao động và thành quả học tập của bản thân người học. 8 Giải được một bài tập, phát hiện ra một điều mới khơi nguồn cảm hứng cho HS. HS tự mình vật lộn vất vả trong học tập nhưng nếu cuối cùng giải được một bài toán thì sẽ cảm thấy vui sướng, phấn khởi hơn nhiều so với được nghe GV giải hộ 10 bài như vậy.
Nếu dạy học không sát trình độ, luôn ra bài tập khó quá sức HS, để HS thất bại liên tiếp trong quá trình giải toán sẽ làm HS mất niềm tin vào bản thân. Cho nên tổ chức cho HS học tập tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo gắn liền với việc tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân HS. + Trong dạy học Toán ở tiểu học, việc xác lập vị trí chủ thể của người học, phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS được thể hiện bằng cách GV tổ chức, hướng dẫn HS tự phát hiện vấn đề của bài học rồi giúp họ sử dụng kinh nghiệm bản thân (hoặc kinh nghiệm của các bạn trong nhóm) để tìm mối quan hệ giữa vấn đề đó với các kiến thức đã biết, từ đó tự tìm cách giải quyết vấn đề. Ngay từ lớp 1, khi dạy học các kiến thức mới GV cần nêu thành tình huống có vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ, khi học về phép trừ, GV cần nêu thành tình huống có vấn đề cần giải quyết, mặc dù tình huống đó có thể đơn giản và tường minh qua các hình vẽ trong SGK, nhưng cứ để HS tự nêu lên và giải quyết. Ví dụ: Khi học về phép trừ, GV có thể đưa ra tình huống bằng cách hướng dẫn HS quan sát hình vẽ (tranh, ảnh,…) hoặc sử dụng đồ dùng học tập để tự mình nêu ra vấn đề cần giải quyết, chẳng hạn: “Trên cành cây có ba con chim, sau đó một con đã bay đi. Còn lại mấy con chim trên cành cây?”, rồi tự HS tham gia giải quyết vấn đề (ba con chim bớt đi một con chim thành hai con chim, phép tính tương ứng là: 3 – 1 = 2). Thời gian đầu, GV hướng dẫn HS nêu và giải quyết vấn đề.
Dần dần HS tự nêu và tự giải quyết vấn đề. - Cần xác lập vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của học sinh. Bởi khi xác lập vị trí chủ thể của người học thường dẫn đến việc ngộ nhận về sự giảm sút vai trò của người thầy. Ở đây cần thấy rõ mối quan hệ biện chứng của hai nhân tố chủ yếu tạo nên quá trình dạy học.
Một mặt, cần phải hiểu rằng tích cực hóa hoạt động của người học, sự xác lập vị trí chủ thể của họ không hề làm suy giảm mà ngược lại, còn 9 nâng cao vai trò, trách nhiệm của người thầy. Đối với HS nói chung, nếu không có vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV thì họ không thể đảm nhiệm vị trí chủ thể, không thể hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong toàn bộ quá trình học tập. Mặc khác, cần phải thấy rằng tính chất, vai trò của người thầy đã thay đổi: Thầy không còn là nguồn phát tin duy nhất, là người ra lệnh một cách khiên cưỡng. Vai trò, trách nhiệm của thầy trong thời kì đổi mới được xác lập với vai trò mới với tư cách là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn quá trình học tập của HS, cụ thể là: + Thiết kế kế hoạch dạy học, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mặtmục tiêu, nộidung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức; + Tổ chức hoạt động dạy học để biến ý đồ của thầy thành nhiệm vụhọc tập tự nguyện, tự giác của trò, là chuyển giao cho trò không phải những tri thức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò kiến tạo tri thức thông qua hoạt động tích cực, chủ động và sáng tạo của mình; + Hướng dẫn, kể cả điều khiển về mặc tâm lí, bao gồm sự động viên,hướng dẫn trợ giúp và đánh giá kết quả học tập của HS.
+ Trọng tài, cố vấn, xác nhận những tri thức mà HS mới phát hiện,đồng nhất hóa những kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá nhân, phụ thuộc vào hoàn cảnh và thời gian của từng HS thành tri thức chương trình. Trong dạy học môn Toán ở tiểu học, việc xác lập vị trí mới của người thầy được thực hiện trên cơ sở GV lập kế hoạch, tổ chức và hướng dẫn, hợp tác với HS trong các hoạt động học tập với sự tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Thầy giáo cần tổ chức, hướng dẫn cho HS hoạt động học tập với sự trợ giúp đúng lúc, đúng mức độ của SGK và các đồ dùng dạy học, để từng HS (hay nhóm HS) tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học; tự chiếm lĩnh nội dung học tập rồi thực hành, vận dụng các nội dung đó theo năng lực của từng cá nhân. - Cần tăng cường dạy cách học, cách tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học + Mục đích dạy học là dạy cho HS còn đường, cách thức để chiếm lĩnh kiến thức và những kĩ năng cụ thể tức là ở chính bản thân việc học, ở cách học, ở khả 10 năng đảm nhiệm, tổ chức và thực hiện quá trình học tập một cách hiệu quả.
Ý tưởng này ngày càng được nhấn mạnh trong lí luận và thực tiễn dạy học trên quy mô quốc tế. Đương nhiên, ý tưởng này chỉ có thể được thực hiện trong những quá trình mà ngời học thực sự hoạt động để đạt được những gì mà họ cần đạt + Việc nhấn mạnh vài trò của tự học và dạy tự học không có nghĩa là phủ nhận bản chất xã hội của việc học tập. Tự học không có nghĩa là cô lập người học khỏi xã hội, không có nghĩa là bao giờ cũng để người học đơn phương độc mã suy nghĩ từ đầu đến cuối + Trong dạy học Toán ở tiểu học, việc dạy cách học, cách tự học, cách có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như tổ chức cho HS hoạt động thực hành (cá nhân hay theo nhóm), sử dụng phiếu học tập, tìm hiểu thực tế ở các nhà máy, xí nghiệp,… - Có thể áp dụng một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực như sau: + Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống bởi đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. + Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học.
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. + Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề: Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề.