mở đầu cho một thời đại văn minh - thời đại Đồ sắt. Mọi người than phục, nhưng cô gái thi mim cười: Nhỡ con người biết sắt còn trước hơn thì sao? Lê Thị Thanh Trâm Trang 17 KHOA LUẬN TOT NGHIỆP GVHD: Ths. Trần Thị Vân - Không thể được, chàng sinh viên khảo cổ trả lời, trước đó là thời đại Đồ đồng thanh. Con người thời đại Đỗ đồng thanh biết làm ra công cụ và vũ khí bằng thứ kim loại này, nhưng chưa thể bỏ công cụ bằng đá, bởi lẽ đồng thanh không đủ cứng.
Chỉ có với kỷ nguyên Đồ sắt thì công cụ bằng đá mới trở thành “vật trong viện báo tàng”. Mọi người đều lên tiếng vỗ tay trước tài hùng biện của chàng sinh viên ngành Sử và có phan ái ngại cho cô gái, sinh viên năm thứ 5 ngành Hoá này. Thật ra thì cô gái nói đúng. Sắt là một kim loại hoạt động mạnh, cho nên rất dễ giải thích tại sao hầu hết các quặng sắt đều là quặng oxit.
Không có sắt tự do nếu không có của “trời cho”. Loài người từ xa xưa đã biết sắt ở dạng tự sinh. Đó là nhờ những sắt “thiên thạch” rơi xuống Trái đất. Trong ngôn ngữ nhiều dân tộc, danh từ sắt có liên quan đến trời, thiên thể, ngôi sao.
Trong quang phổ của mặt trời có nhiều vạch tượng trưng cho hơi sắt. Sắt từ thiên thạch có những tính chất lí hoá rit đặc biệt ma sắt luyện kim không có. Nó mềm và màu sắc rất dịu, người đời xưa dùng sắt này làm đồ trang sức quý như vàng. Sự phân tích cho thấy sắt “trời cho” này có chứa nguyên tố niken và coban.
Như vậy, sắt, niken, coban là ba chị em ruột đã khai sinh từ thiên tảo, và khi hạ giới thì cũng ở bộ ba liền nhau trong nhóm VIII của bảng HTTH Mendeleep. Tính trung bình cứ 20 thiên thạch rơi xuống Trái đất thì 1 1a kim loại sắt. Tuy nhiên, “của trời cho” tức là của may thi làm gì có nhiều được. Bằng sức lao động của mình, con người phải tự tìm ra sắt.
Cái khó khăn nhất đối với người tiền sử trong việc nấu quặng sắt là nhiệt độ. Thông thường, muốn khử oxit kim loại người ta dùng than. Sắt có nhiệt độ nóng chảy rất cao (1539°C), than củi không đủ nhiệt để thu được sắt nóng chảy. Mặc dù tổ tiên chúng ta cũng đã cố gắng đào hỗ trên núi, bố trí sao cho thoáng gió.
Chất quặng cùng với củi, sau đó đốt lửa. Nhưng sắt thu được cần phải rèn lại thì mới dùng được. Việc nghiên cứu dé hoàn thiện quá trình luyện sắt (luyện kim đen) còn Lê Thị Thanh Trâm Trang 18 KHOA LUẬN TOT NGHIỆP GVHD: Ths. Trần Thị Van tiếp diễn cho đến tận ngày hôm nay.
Chắc các em HS không nghĩ rằng mọi việc đã có sẵn, cái còn lại là sự hưởng thụ! “HOÁ HỌC KHÁC TOÁN HỌC Ở CHỎ NÀO?" Một hôm. nhà toán học Đức Karl Gauss tranh luận với nhà hoá học Y Avogadro. Ông Gauss tỏ ra khinh thường hoá học và cho rằng chỉ có toán học mới có những định luật, còn hoá học chỉ là người phục vụ cho toán học mà thôi. Ông Avogadro dan Gauss vào phòng thí nghiệm và tự mình làm phản ứng: cho một thé tích O; tác dụng với hai thể tích H; dé tạo thành hai thể tích H,O ở dang hơi: 2Haay + Ory — 2H;Oạ, Lúc đó, nhà hoá học mới mim cười và bảo với nhà toán học: - Ngài thấy chưa? Nếu hoá học đã muốn thì toán học phải chao thua.
Hai cộng một, bắt chấp toán học, cũng chỉ là hai đấy thôi. “SỰ DUNG CẢM CUA NHÀ HOÁ HOC” Schiller — nhà hoá học Thuy Điển xuất thân từ gia đình rất nghèo, phải bỏ học đi làm thuê cho một nha bao chế. Từ năm 14tuổi, cậu bé Schiller đã tự minh đi vào hoá học. Năm 1775, những công trình thực nghiệm của Schiller đã nổi tiếng thế giới.
Ông cũng đã phát minh ra nhiều định luật hoá học. Schiller có thói quen làm việc say mê. Công việc của ông phải tiếp xúc thường xuyên với các chất độc va dé nô, cháy và có thé gây ra những tai nạn bất ngờ. Một hôm, trước khi vào phòng thí nghiệm, ông dặn người giúp việc: “Em sắp làm thí nghiệm với khí clo.
Nếu chẳng may em ngã, gọi anh thì chớ vào vội mà phải mở tung cửa rồi chạy nhanh ra ngoài!”. Người giúp việc hốt hoảng can nhưng ông điềm nhiên: "Không thể được. Tính mệnh của em không phải là điều quan trong! Quan trọng là phải tìm ra những tinh chat của khí clo co”. Người giúp việc chỉ biết.
lắc đầu nữa mà thôi. “TRUYỆN CUA CÁC NHÀ HOÁ HỌC THU KHÍ HIDRO XIANUA HCN” Các nhà hoá học da làm thé nao dé có thể nhận ra được HCN trong một hỗn hợp khí? | THU VIEN | | Lé Thi Thanh Tram | TP. HỖ-CHỈ-MINĂ Trang 19 KHOA LUẬN TOT NGHIỆP GVHD: Ths. Tran Thị Vân “Ta chỉ cần ngửi hỗn hợp đó.
Nếu chúng ta chết ngay lập tức, chứng tỏ hỗn hợp chứa khí HCN” —+ Chuyện phản ánh những phẩm chất cao quý của nhà hoá học. Không chi là trí thông minh vô hạn mà đó còn là lòng say mê khoa hoc, sự dũng cảm hy sinh quên minh, xá thân vì khoa học. “MỘT CHUYEN TINH CẢM ĐỘNG NHUNG.” Hồi đầu thế kỷ XIX, các nhà bác học đã phát hiện ra sắt có trong máu người dưới dạng huyết cầu tổ (hemoglobin). Một sinh viên khoa Hoá đã làm gì khi nghe cô gái mình yêu hỏi anh ta lấy gì làm chứng minh cho tình yêu đang chảy cuồn cuộn trong cơ thé anh ta? Anh ta đã quyết định tặng người yêu dấu một chiếc nhẫn bằng.
sắt, nhưng không phải bằng sắt thông thường mà bằng sắt lấy chính từ máu của mình! Cứ định ki lấy máu ra, chàng trai thu được một hợp chất mà từ đó tách sắt bảng phương pháp hoá học. Nhưng chiếc nhẫn đã không bao giờ được đeo trên tay cô gái nhưng một bằng chứng tình yêu bởi. nó chưa được làm gì thì chàng trai đã chết vì bị mắt máu, cho dù lượng sắt lấy ra khỏi cơ thé chàng chưa tới.3 g! Các chàng trai, cô gái ngày nay vẫn rất nhớ câu chuyện này. Nhưng chẳng ai chứng tỏ tình yêu bằng cách này nữa, cho dù thật là cảm động.
“KHÔNG HẸN MÀ CÙNG NHAU. Vào cuối thập niên 80 của thế kỷ XIX, thế giới vẫn chưa tìm ra phương pháp tích cực nào để sản xuất ra nhôm thật là hiệu quả. Giá thành của nhôm thật là đắt với phương pháp điều chế của J. Oerster và Friedrich Wohler.
Ay vậy mà khi đã tìm ra phương pháp hữu hiệu thì có những hai nhà bác học hoá học được cắp bằng sáng chế. Trong lịch sử khoa học và kỹ thuật có không ít những trường hợp mà hai nhà bác học trong cùng một năm đã đi đến kết luận hoặc những phát minh trùng nhau. Thể nhưng, hai nhà bác học đã củng điện phân dung dịch muỗi nhôm để diéu chế nhôm là Charles Martin Hall người Mỹ và Paul Héroult người Pháp nay thi sự trùng Lê Thị Thanh Trâm Trang 20 KHOA LUẬN TOT NGHIỆP GVHD: Ths. Trần Thị Vân hợp càng thêm “chồng chất” bởi cả hai đều sinh năm 1863, nhận bằng phát minh năm 1886 và cuối cùng như thể hẹn ước, cả hai đều mắt năm 1914.
“CHAT KHÍ CHỮA BỆNH DUY NHAT” Vào cuối thé ky XVIII, khi hàng loạt các chất khí chưa từng biết được tìm ra dồn dập, xã hội Anh đã rất quan tâm đến vấn đề này, đến mức ở Bristol, người ta đã thành lập một viện nghiên cứu gọi là “Viện các khí” với mục đích dùng chất khí chữa bệnh. Nha hoá học Hmphry Davy được cử làm thanh tra của viện. Trong buỏi họp long trọng để nghe báo cáo kết quả nghiên cứu, Davy đã đọc bài dién văn kết “Thưa các quý vi, trong tất cả các khí, thực ra chỉ có một chất khí chữa được bệnh mà chúng ta đã biết từ lâu — từ thud khai sinh lập địa — đó là không khí sạch!” — Trong việc học là sự giải trí, trong việc giải trí lại có sự học. Dé là cách học khôn ngoan.
Những câu chuyện lý thú giúp giải toa căng thẳng và tao bau không khí học tập thoải mái hơn. HS tiếp thu bài tích cực hơn.2 Hình vẽ, tranh ảnh Lời nói được xem là công cụ dạy học quan trọng số | của người GV. Đó là phương tiện giao tiếp rất hiệu quả. Tuy nhiên, không phải mọi vấn dé đều có thé được diễn đạt bằng lời nói một cách trọn vẹn.
Có một câu danh ngôn: “Khi ngôn ngữ đi đến ngõ cụt thì âm nhạc bắt đầu”. Điều đó chứng tỏ lời nói không phải là công cụ truyền tin hoàn hảo nhất. Trong đạy học, người GV có thể sử dụng hình ảnh, tranh vẽ làm phương tiện hỗ trợ đắc lực cho sự truyền tải nội dung bài giảng đến HS. Tác dụng - Tranh ảnh, hình vẽ giúp GV dé dang tăng cường lượng thông tin một cách hiệu quả: + Tranh ảnh, hình vẽ có thé thay thé những vật thật quá nhỏ bé không thể nhìn thấy bảng mắt thường hoặc không thé quan sát do bị che khuất (ví dụ cấu tạo nguyên tir.) Lé Thi Thanh Tram Trang 21 KHOÁ LUẬN TÔT NGHIỆP GVHD: Ths.
Trần Thị Vân + Tranh ảnh, hinh vẽ có thé thay thế những vật thật quá lớn, nguy hiểm, không thé tới gần (ví dụ các thiết bị sản xuất hoá chất.) + Tranh ảnh, hình vẽ có thể thay thế các thí nghiệm khó, nguy hiểm, không có điều kiện tiến hành. + Tranh ảnh, hình vẽ có thể thay thế những vật thật mà lời nói, chữ viết không thể nào mô ta được. - Tranh ảnh, hình vẽ có thể bỏ qua những chỉ tiết thứ yếu, nhanh, chính xác (các quy trình sản xuất) - Tranh ánh, hình vẽ giúp GV tiết kiệm thời gian do không phải mô tả, giải thích dài dòng bảng lời. - Thông tin được truyền đạt bằng hình ảnh sinh động, hắp dẫn nên dễ làm HS chú ý, nhớ lâu.
Hình vẽ dé gây dn tượng, tăng hứng thú, lớp học sôi động hơn. © Chú ý khi sử dụng hình vẽ - Cần phân biệt 2 loại hình vẽ theo tính chất và mục đích sử dụng: + Hình vẽ cần có tính chính xác, giếng vật thật, cân đối đúng tỷ lệ kích thích trong ế. thựtc + Hình vẽ có tính khôi hài để gây hứng thú, tạo dn tượng mạnh - Hình vẽ không có khả năng truyền đạt tất cả mọi thông tin nên có chú thích kèm theo khi cần thiết. - Trong cùng một bố cục chỉ được sử dụng một trong 3 phép vẽ: phép vẽ chiếu, vẽ cắt và phép vẽ phối cảnh.