CHƯƠNG 1 Luan van B. PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ THUẬT DẠY HỌC XYZ 1. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới Một số nhận định chung về kĩ thuật XYZ (6 – 3 – 5) Kĩ thuật XYZ (6-3-5 Brainwriting) [23] là một KT nhóm sáng tạo đƣợc sử dụng trong tiếp thị, quảng cáo, thiết kế, văn bản và phát triển sản phẩm đƣợc phát triển bởi giáo sƣ Bernd Rohrbach vào năm 1968.
Dựa trên khái niệm của não, mục đích của 6-3-5 (Brainwriting) là để tạo ra 108 ý tƣởng mới trong 30 phút. Tƣơng tự nhƣ động não, nó không phụ thuộc vào chất lƣợng ý tƣởng mà quan trọng là số lƣợng các ý tƣởng. Theo Fernald & Nickolenko, 1993; Leclef, 1994 [24] cho rằng động não viết đƣợc biết đến nhƣ là công cụ để giải quyết vấn đề sáng tạo. Nó là một KT đơn giản dễ thực hiện, tăng khả năng phát triển ý tƣởng chung và tạo sự thích thú với chính hoạt động của mình (Isaksen, 1998).
Jonas Löwgren và Erik Stolterman [20][30] nhận định KT XYZ (6-3-5) là một phiên bản có cấu trúc phức tạp hơn KT động não, do Robarch khởi sƣớng và đƣợc phát triển bởi Pahl và Beltz (1988). Paul và Beitz [20][30] khẳng định KT XYZ (635) có những thuận lợi nhất định so với động não thƣờng xuyên, chẳng hạn nhƣ khả năng để phát triển hệ thống các ý tƣởng một cách tự nhiên hơn, khả năng tránh những khó khăn nhóm năng động, và khả năng xác định ngƣời khởi tạo một ý tƣởng đặc biệt mạnh mẽ. Heinz Gerhäuser, Jürgen Hupp, Christos Efstratiou và Janina Heppner [17][27] khẳng định KT XYZ là KT sáng tạo, nó nhƣ là công cụ hỗ trợ khả năng sáng tạo (quá trình tạo ra một cái gì đó mới có giá trị). Kĩ thuật XYZ là một KT động não 6 Luan van viết, với vấn đề đƣợc giải quyết theo vòng tròn để tạo ra những ý tƣởng trong một nhóm các chuyên gia hoặc ngƣời tham gia.
KT này căn cứ vào một biểu mẫu bảng 1.4 sẽ đƣợc trao cho tất cả 6 ngƣời tham gia. Các mẫu đƣợc phân mảnh trong một bảng gồm 3 cột và 6 dòng đƣợc đánh số tuần tự. Ban đầu mỗi ngƣời tham gia phải viết xuống ba ý tƣởng cho một câu hỏi đƣợc đƣa ra trong những dòng đầu tiên. Sau năm phút bảng ý tƣởng này sẽ đƣợc di chuyển theo chiều kim đồng hồ cho ngƣời bên cạnh, cuối cùng ngƣời cả nhóm đọc những ý tƣởng nhất định và tạo ra những cái mới hoặc bổ sung những ý tƣởng đã đƣợc trình bày.
Kết quả của KT này là một bộ sƣu tập lên đến 108 ý sau 30 phút (6 ngƣời tham gia với 3 ý tƣởng và 6 dòng). KT này cho phép đƣợc phản hồi trực tiếp với những ý tƣởng đƣợc đƣa ra cũng nhƣ tạo ra một số lƣợng toàn bộ ý tƣởng mới. Thêm vào đó những ý tƣởng có thể đƣợc tạo ra và phát triển một cách có hệ thống. KT XYZ nhƣ là công cụ hỗ trợ nhằm đạt đến kết quả cho các văn phòng làm việc, quản lý, kinh tế, an ninh, các khía cạnh tự động hóa và thông tin liên lạc.
Các tác giả đã đƣa ra kết luận KT sáng tạo này thật sự rất cần thiết cho các bộ phận làm việc sử dụng đến trí óc và dịch vụ hành chính công đang phải đối mặt với những thách thức và cạnh tranh trên toàn cầu và nó sẽ phát triển thêm nữa trong tƣơng lai. Jamal Omari Wilson [22][32] lại cho rằng XYZ (6 – 3 – 5) là một KT động não nhóm gồm 6 ngƣời tham gia. Mỗi ngƣời tham gia viết xuống ba từ khóa, sau đó đƣợc chuyển cho các thành viên còn lại trong nhóm. Các thành viên còn lại ghi tiếp tục ba ý tƣởng để giải quyết.
Ý tƣởng đƣợc truyền tổng cộng năm lần. Do đó, các kĩ thuật 6 – 3 – 5 gồm 6 ngƣời tham gia, 3 ý tƣởng và 5 phút thông qua. Bogdan Lent [19][29] nhận định rằng KT XYZ nhƣ là cách “ghi nhận các suy nghĩ” đã đƣợc hình thành bởi Rohrbach năm 1969, XYZ có chức năng tƣơng tự nhƣ "động não". Các ý tƣởng không đƣợc trình bày dƣới dạng một hình thức tổng thể nhƣng nó đƣợc ghi nhận bởi những ngƣời tham gia.
Do đó, ngƣời tham gia có khả năng tƣơng tác tốt trong xã hội hiện tại. Châu Âu và Châu Mỹ 7 Luan van Qua nghiên cứu Larisa V. Shavinina [21][31] cho rằng ở Châu Âu, học giả Rickard ở Anh và Horst Geschka ở Đức đã có những đóng góp to lớn cho lĩnh vực giới thiệu động não và KT và thực hành chúng tích cực. Động não điện tử của Rickard (Rickards' Electronic Brainstorming) và động não viết của Geschka (Brainwriting, 635 method) là hai biến thể đƣợc sử dụng rộng rãi dựa trên PP luận ban đầu của Osborn (Rickards, 1999; Geschka, Moger & Rickards, 1994).
Mặc dù KT 635 đƣợc phát triển bởi Bernh Rohrbach năm 1969, Geschka và đồng nghiệp của ông của nhóm nghiên cứu Battelle tại Frankfurt đã kiểm tra và thử nghiệm KT này trong các ứng dụng thực tế và đã đƣa ra phiên bản mới vào năm 1971. Ở những nơi khác ở Châu Âu, Edward de Bono (1969, 1986) đã đẩy ranh giới của tƣ duy sáng tạo với thêm hai biến thể, đƣợc gọi là tƣ duy Lateral (Lateral Thinking) và tƣ duy với 6 chiếc nón (The Six Thinking Hats). Trong những thập kỉ sau đó, giáo dục sáng tạo và dạy học với suy nghĩ sáng tạo đã đƣợc thực hiện tƣơng tự nhƣ nhau ở cả Châu Âu và Hoa Kì. Châu Á Theo Bernd Jöstingmeier [18][28] và Larisa V.
Shavinina [21][31] cho rằng các biến thể mới về KT Động não trong đó có KT XYZ đã dẫn đến những đột phá đáng kể ở Châu Á, đáng chú ý nhất tại Nhật Bản và Trung Quốc, các doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản đã ứng dụng các KT sáng tạo thành công trong nhiều lĩnh vực kinh doanh: Trong tháng 10 năm 1991, Xu với Yuzuru Oshika và Tatsuo Hoashi, gửi bộ câu hỏi đến 500 doanh nghiệp Nhật Bản để điều tra việc áp dụng các KT tƣ duy sáng tạo. Một tập hợp điều tra bao gồm tám mƣơi chín phần trăm số lƣợng nhân viên công ty, kết quả phiếu điều tra thu về là 17,8%.1 cho thấy tỷ lệ phần trăm của các KT tƣ duy nhóm, bao gồm động não và KT KJ là cao hơn so với các KT khác. Mặt khác, Xu đã có một cuộc phỏng vấn với khoảng 50 ngƣời dân tại 5 doanh nghiệp Trung Quốc trong năm 1989. Theo các cuộc phỏng vấn, Trung 8 Luan van Quốc thích tƣ duy sáng tạo, KT cá nhân nhƣ KT khiếm khuyết (Defect Enumeration), KT hy vọng (Hopes Enumeration) qua các PP nhóm.
Nhƣng tỷ lệ Brainstorming là thấp. Các chi tiết đƣợc trình bày trong bảng 1. Tỷ lệ sử dụng các kĩ thuật tư duy sáng tạo [18] [21][31] Doanh nghiệp Nhật Bản Doanh nghiệp Trung Quốc Brainstorming 86,6% Defects Enumeration 78,3% KJ method 73,0% Hopes Enumeration 70,1% NM method 22,4% Check List 41,5% Others 16,9% Lateral Thinking 25,6% Lateral Thinking 13,4% Kongming Meeting 21,8% Ichikawa Method 10,1% Brainstorming 13,0% Synectic 4,4% 635 method 9,2% 635 method 1,1% Others 5,9% Tháng 10 năm 1991 Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 1989 Từ kết quả nghiên cứu, Bernd Jöstingmeier [18][28] nhận thấy rằng sự sáng tạo của nhóm và tổ chức đã nhấn mạnh trên sự sáng tạo cá nhân. Doanh nghiệp Nhật Bản và Trung Quốc đã áp dụng các mô hình sáng tạo và đạt đƣợc sự tăng trƣởng doanh thu liên tục.
Trên phƣơng diện giáo dục, Larisa V. Shavinina [21][31] nhận định rằng, trong những năm gần đây Trung Quốc cũng đã bắt đầu giới thiệu các chƣơng trình giáo dục sáng tạo và bắt đầu giảng dạy các tƣ duy sáng tạo cho HS. Nhiều trƣờng tiểu học và trung học trên lãnh thổ Trung Quốc cũng đƣa ra khóa học gọi là KT sáng tạo và các trƣờng cao đẳng, đại học cũng đã giảng dạy cách sáng tạo cho các kĩ sƣ (Creative Engineering). Các khóa học này đã tập trung vào sự phát triển sáng tạo để cải thiện khả năng suy nghĩ mang tính sáng tạo (Xu, 2005, 2009).
Lịch sử vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam KTDH XYZ (6 – 3 – 5) là một KT mới đƣợc phát triển dựa trên KT động não của Osborn [8]. Sau đó KT này đã nhanh chóng đƣợc phát triển và vận dụng trên 9 Luan van nhiều nƣớc. Tuy nhiên, KT này mới đƣợc triển khai ở Việt Nam trong những năm gần đây. Cụ thể: Năm 2010, Nguyễn ăn Cường và ernd Meier đã phổ biến một số KTDH mới vào Việt Nam trong đó có KTDH XYZ qua dự án phát triển giáo viên THPT.
Trong dự án này, các tác giả đã triển khai KT XYZ khá rõ qua quyển Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông [2], đƣợc diễn ra ở Hà Nội. Năm 2013: Trong quyển tài liệu Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên (quyển 2) [14] dành cho GV tiểu học. Thông qua tài liệu bồi dƣỡng này, KT XYZ đƣợc vận dụng vào giảng dạy giáo dục kĩ năng sống HS. Tuy nhiên KT này và một số KT khác trình bày ngắn gọn, chƣa bật hết nội dung của KT.
Kết thúc nội dung là phần củng cố, các GV tập huấn thảo luận các câu hỏi để vận dụng vào thực tế giảng dạy và nêu ra những khó khăn, thuận lợi khi sử dụng các KTDH vào giáo dục kĩ năng sống cho HS. Lê Thị Bích và Nguyễn Bích Lan [2] đã đề cập đến KT XYZ trong quyển tài liệu Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động của giáo viên dành cho khối THCS (module 34 đến 38). Tài liệu bồi dƣỡng này trình bày khá chặt chẽ về KT XYZ cũng nhƣ cách thức tiến hành nó. Tuy nhiên, phần vận dụng nó thì chƣa đƣợc tác giả đề cập đến.
Lê Thanh Sử - Nguyễn Thanh Bình và Phạm Quỳnh [10] đã đề cập đến KT XYZ trong quyển Tài liệu bồi dưỡng Phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục của giáo viên, tác giả đã triển khai một số KT sáng tạo trong đó có KT 6 – 3 – 5 (XYZ) trong tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho khối THPT. Ở mỗi KT triển khai, tác giả nêu lên qui trình để vận dụng các KT này. Kết thúc nội dung bồi dƣỡng hoạt động ngoài giờ lên lớp, tác giả đƣa ra các câu hỏi thảo luận nhƣ những thuận lợi và khó khăn khi vận dụng [2] Nguyễn Văn Cƣờng và Bernd Meier, Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo.