phần mở đầu; Luận văn gồm 3 chương: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT CỦA HERZBERG TRONG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TẠI TỔ CHỨC CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢN VIỆT- CHI NHÁNH HÀ NỘI CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP VẬN DỤNG HỌC THUYẾT CỦA HERZBERG NHẰM TĂNG CƢỜNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢN VIỆT- CHI NHÁNH HÀ NỘI 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG HỌC THUYẾT CỦA HERZBERG TRONG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TẠI TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực Đối với các tổ chức nói chung, việc ngƣời lao động hoàn thành công việc của mình với hiệu quả cao là điều mà bất kỳ nhà quản lý nào cũng mong muốn. Tuy nhiên, dù làm việc trong cùng một điều kiện môi trƣờng nhƣ nhau nhƣng sẽ có ngƣời lao động hăng say, có kết quả thực hiện công việc cao nhƣng cũng sẽ có ngƣời làm việc uể oải, không có hứng thú với công việc, bỏ bê công việc và có kết quả thực hiện công việc thấp.
Theo các nhà kinh tế học, nguyên nhân của sự khác biệt này nằm ở động lực lao động của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Vậy động lực là gì? Và động lực khác động cơ ở chỗ nào? Theo từ điển tiếng Anh Longman, động lực làm việc đƣợc định nghĩa là "Một động lực có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi" Theo tác giả Stephen P.Robbins và Timothy A.Judge thì “Động lực là các quá trình thể hiện cƣờng độ, định hƣớng và mức độ nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc mục tiêu. […] Trong đó: Cƣờng độ mô tả mức độ cố gắng của một ngƣời. Tuy nhiên, cƣờng độ cao không chắc sẽ dẫn đến kết quả công việc mong muốn nếu những nỗ lực đó không đƣợc khai thác theo định hƣớng mang lại lợi ích cho tổ chức.
Sự bền bỉ là thành tố chỉ thời gian một ngƣời có thể duy trì nỗ lực. 15 Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân thì “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời” [7, tr134] Theo giáo trình Hành vi tổ chức, Bùi Anh Tuấn đã chỉ ra “Động lực của ngƣời lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động.
Khi bàn về động lực của ngƣời lao động trong tổ chức, các nhà quản lý thƣờng thống nhất ở một số điểm sau đây: Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trƣờng làm việc, không có động lực nào chung chung không gắn với công việc cụ thể nào; Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có ngƣời có động lực và ngƣời không có động lực. Trong trƣờng hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực sẽ dẫn tới năng suất, hiệu quả công việc cao hơn. Tuy nhiên, không nên cho rằng động lực tất yếu dẫn đến năng suất và hiệu quả công việc bởi vì sự thực hiện công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực mà còn phụ thuộc vào khả năng của ngƣời lao động, phƣơng tiện và các nguồn lực để thực hiện công việc; Nhƣ vậy Động lực bao gồm các khía cạnh: định hƣớng của hành vi; Cƣờng độ hành động; Tính bền bỉ của hành vi.
Động lực làm việc Động lực làm việc luôn gắn liền với mỗi con ngƣời, mỗi công việc, mỗi tổ chức và một môi trƣờng làm việc cụ thể. Và nhƣ vậy động lực lao đông không có công thức chung. Ngƣời lao động là mỗi cá thể độc lập, thực hiện 16 những nhiệm vụ riêng biệt nhau vì vậy cũng có cách tạo động lực khác nhau. Tạo động lực riêng biệt cho mỗi công việc, mỗi ngƣời lao động và mỗi một môi trƣờng cụ thể là khác nhau.
Điều đó đồng nghĩa với việc nhà quản trị sẽ không thể xây dựng đƣợc một chƣơng trình tạo động lực làm việc cho nhân viên của doanh nghiệp mình nếu nhƣ chƣa hiểu rõ công việc của họ, môi trƣờng làm việc của họ, mối quan hệ giữa họ với tổ chức. Động lực làm việc là những kích thích xuất phát từ phía bên trong bản thân ngƣời lao động, nhƣng động lực làm việc không phải là một đặc điểm tính cách cá nhân nghĩa là không có ngƣời nào sinh ra đã có sẵn động lực làm việc. ngƣời lao động luôn làm việc hăng say khi họ cảm thấy thích thú hoặc mong muốn đạt đƣợc mục đích từ công việc ấy. Và khi làm việc một cách hào hứng nhƣ vậy họ có thể đạt đƣợc kết quả thực hiện công việc một cách tốt nhất.
Vì thế, chúng ta không thể trông chờ vào việc ngƣời lao động sẽ tự tạo động lực cho bản thân họ, đã là nhà quản trị thì phải chủ động xây dựng phƣơng pháp tạo động lực và chƣơng trình hành động cụ thể thì mới mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp mình. Động lực làm việc luôn mang tính tự nguyện, điều này đƣợc thể hiện thông qua sự say mê làm việc hết mình, làm việc một cách có chủ đích, khoa học, hoàn toàn tự nguyện và không hề bị chi phối bởi sức ép nào khác. Tại thời điểm này một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhƣng vào một thời điểm khác động lực lao động chƣa chắc đã còn trong họ. Là nhà quản trị chúng ta cần nhận thức rõ sự khác biệt giữa hành vi lao động hết mình của ngƣời lao động do chịu một sức ép nào đó từ tổ chức hay do sự tự nguyện của bản thân họ để có biện pháp ứng xử cho phù hợp.
Động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc nâng cao trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi. Tuy nhiên cũng cần hiểu 17 rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ trí tuệ, trình độ, tay nghề của ngƣời lao động, các phƣơng tiện, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc. Trong thực tiễn ngƣời lao động không có động lực làm việc thì vẫn có thể hoàn thành công việc thế nhƣng chúng ta cũng thấy rằng sự gắn bó, nhiệt huyết của họ với doanh nghiệp là không nhiều. Bản thân họ không thể mang hết tài năng và trí tuệ cống hiến tận tuỵ cho doanh nghiệp và không khi nào họ là những nhân viên trung thành, là tài nguyên quý giá của doanh nghiệp.
Tạo động lực làm việc Theo Bùi Anh Tuấn thì “Tạo động lực đƣợc hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc. Tạo động lực cho ngƣời lao động là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý. Một khi ngƣời lao động có động lực làm việc, thì sẽ tạo ra khả năng tiềm năng nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công tác” [11, tr91]. Mỗi ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đều có những lý do khác nhau, có ngƣời làm việc vì mức lƣơng cao, có ngƣời làm việc vì đƣợc tôn trọng, có ngƣời làm việc vì có đồng nghiệp tốt, có ngƣời lại làm việc vì môi trƣờng làm việc có thể học hỏi và cho họ nhiều cơ hội phát triển bản thân…Nhƣng dù vì lý do gì thì những thứ mà ngƣời lao động dành đƣợc từ công việc đều ảnh hƣởng đến tinh thần, động lực làm việc và chất lƣợng cuộc sống của họ.
Chính vì vậy, để ngƣời lao động thực hiện nhiệm vụ một cách có hiệu quả trong tổ chức thì điều tất yếu mà các nhà quản lý cần làm là sử dụng các biện pháp để tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động làm việc. Nhƣ vậy, từ các khái niệm nêu trên tác giả đúc kết ra rằng “tạo động lực là tổng hợp các sự việc và cách ứng xử nhằm tang cường và sử dụng có hiệu quả các yếu tố duy trì và yếu tố thúc đẩy hình thành động cơ làm việc, cung cấp nguồn lực để động cơ được duy trì”. Học thuyết hai nhân tố của Herzberg 1. Hoàn cảnh ra đời của học thuyết Herzberg Năm 1959, F.
Herzberg và các đồng nghiệp của mình, sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn với hơn 200 ngƣời kỹ sƣ và kế toán của ngành công nghiệp khác nhau và đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích. Ông đặt các câu hỏi về các loại nhân tố đã ảnh hƣởng đến ngƣời lao động nhƣ: khi nào thì có tác dụng động viên họ làm việc và khi nào thì có tác dụng ngƣợc lại. Bằng kinh nghiệm chuyên môn, ông chia các nhu cầu của con ngƣời theo 2 loại độc lập và có ảnh hƣởng tới hành vi con ngƣời theo những cách khác nhau: khi con ngƣời cảnh thấy không thoả mãn với công việc của mình thì họ rất lo lắng về môi trƣờng họ đang làm việc, còn khi họ cảm thấy hài lòng về công việc thì họ tất quan tâm đến chính công việc Phát hiện của Herzberg đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn vì nó đã đảo lộn nhận thức thông thƣờng. Các nhà quản lý thƣờng cho rằng đối ngƣợc với thỏa mãn là bất mãn và ngƣợc lại.
Nhƣng, Herzberg lại cho rằng đối nghịch với bất mãn không phải là thỏa mãn mà là không bất mãn và đối nghịch với thỏa mãn không phải là bất mãn mà là không thỏa mãn. Các yếu tố hình thành động lực làm việc theo học thuyết hai nhân tố của Herzberg Bảng 1.1: Bảng nội dung của thuyết hai nhân tố Chỉ tiêu Nhân tố thúc đẩy Nhân tố duy trì Các nhân tố thúc đẩy là các yếu tố thuộc bên trong công viêc. Các Nhân tố duy trì là các yếu tố khách Định Đây chính là nhu cầu cơ bản quan bên ngoài công việc, tác động nghĩa của ngƣời lao động khi tham gia tới khả năng duy trì, tiếp tục công làm việc. việc của ngƣời lao động.