CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁ TRỊ HỢP LÝ VÀ VIỆC SỬ DỤNG GIÁ TRỊ HỢP LÝ ĐỂ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁ TRỊ HỢP LÝ: Vào năm 1982, giá trị hợp lý lần đầu tiên được Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB (International Accounting Standards Board) sử dụng trong IAS 16 – Chuẩn mực kế toán về bất động sản, máy móc và trang thiết bị. Trong chuẩn mực này giá trị hợp lý được định nghĩa là “giá trị một tài sản có thể được trao đổi giữa các bên có hiểu biết sẵn lòng mua và sẵn lòng bán trong một trao đổi ngang giá”. Ngoài ra, trong các chuẩn mực khác của IASB không định nghĩa nhưng sử dụng định nghĩa về giá trị hợp lý như: IAS 17: Chuẩn mực kế toán cho thuê tài sản (1982). IAS 18: Chuẩn mực ghi nhận doanh thu (1982).
IAS 20: Chuẩn mực kế toán cho các khoản trợ cấp và công bố các khoản trợ cấp của chính phủ. IAS 22: Chuẩn mực kế toán cho hợp nhất kinh doanh (1983). IAS 25: Chuẩn mực kế toán cho các khoản đầu tư. IAS 26: Chuẩn mực kế toán và báo cáo theo quỹ lợi ích hưu trí.
Các chuẩn mực này không định nghĩa nhưng sử dụng định nghĩa về giá trị hợp lý. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Đến năm1988, IASB áp dụng giá trị hợp lý vào khoản mục các công cụ tài chính. Khái niệm giá trị hợp lý được mở rộng thêm đối tượng nợ phải trả so với trước đây chỉ là đối tượng tài sản, các khái niệm về người bán và người mua được thay thế bằng “các chủ thể liên quan”. Giai đoạn này, IASB định nghĩa “Giá trị hợp lý là giá trị của một tài sản có thể trao đổi hoặc một khoản nợ phải trả được thanh toán giữa các chủ thể có hiểu biết liên quan, thiện chí trong sự trao đổi ngang giá” - IASB sử dụng định nghĩa mới trong: IAS 32: Công cụ tài chính : Công bố và trình bày.
IAS 36: Giảm giá trị của tài sản (Tổn thất tài sản). IAS 38: Tài sản cố định vô hình. IAS 39: Công cụ tài chính: ghi nhận ban đầu và sau khi ghi nhận ban đầu. IAS 40: Bất động sản đầu tư.
IAS 41: Nông nghiệp. Bắt đầu năm 2005, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) chính thức triển khai dự án xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS (International Financial Reporting Standard) thay thế cho hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế IAS (International Accounting Standard) hiện hành. So với IAS trước đây thì hệ thống IFRS có đặc tính khác biệt là yêu cầu giải trình thông tin chi tiết hơn nhằm giúp các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính hiểu rõ về bản chất của các nghiệp vụ kinh tế, đòi hỏi nhiều hơn xét đoán nghề nghiệp trong việc đưa ra cách xử lý kế toán thích hợp và đề nghị sử dụng giá trị hợp lý như một cơ sở đo lường chủ yếu nhằm tăng cường tính tin cậy và thích hợp của thông tin trên báo cáo tài chính. IFRS 2: Thanh toán trên cơ sở cổ phiếu định nghĩa giá trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hợp lý như sau: “giá trị một tài sản có thể được trao đổi, một khoản nợ phải trả được thanh toán hoặc một công cụ vốn được cấp có thể được trao đổi giữa các bên có hiểu biết, thiện chí trong một trao đổi ngang giá”.
Một số IFRS khác dùng lại định nghĩa trước mà không sử dụng thuật ngữ công cụ vốn được cấp như: IFRS 3: Hợp nhất kinh doanh. IFRS 4: Hợp đồng bảo hiểm. IFRS 5: Tài sản dài hạn được giữ để bán và hoạt động không liên tục. IFRS 7: Công cụ tài chính: công bố.
Ngoài việc thay thế người mua và người bán giữa các bên và mở rộng bao gồm nợ phải trả và công cụ vốn được cấp, định nghĩa giá trị hợp lý trong IFRS không thay đổi trong 25 năm. Ban đầu giá trị hợp lý được sử dụng riêng rẽ trên báo cáo tài chính trong những tình huống khác nhau: xác định giá trị tài sản thuần bên bị mua khi hợp nhất kinh doanh theo phương pháp mua, thay thế giá gốc trong ghi nhận ban đầu không có giá gốc (tài sản được cho, biếu tặng…), sử dụng trong một số mô hình định giá sau khi ghi nhận ban đầu (tài sản cố định hữu hình, bất động sản đầu tư…). Giá trị hợp lý phát triển mạnh trong kế toán, nhất là các hoạt động liên quan đến công cụ tài chính, tạo thành một trào lưu kế toán theo giá trị hợp lý (fair value accounting) hay theo thị trường (market to market accounting). Năm 2006, FASB ban hành SFAS 157 “Đo lường giá trị hợp lý” đưa ra những khái niệm và khuôn khổ áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán.
Tháng 05/2009 IASB đã công bố dự thảo chuẩn mực kế toán quốc tế về giá trị hợp lý. Về cơ bản các định nghĩa và hướng dẫn không khác biệt lớn đối với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các quy định của FASB. Trong đó, giá trị hợp lý được định nghĩa là “giá trị sẽ nhận được khi bán một tài sản hay giá trị thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch có tổ chức giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường”. Ngày 12/11/2009 IASB ban hành IFRS 9: “Công cụ tài chính-Financial Instruments” như là bước đầu trong tiến trình thay thế IAS 39.
IFRS 9 đưa ra những yêu cầu mới về ghi nhận và đo lường công cụ tài chính và sớm có hiệu lực từ 01/01/2013. Tháng 10/2010 IASB ban hành lại IFRS 9 với các nguyên tắc kế toán mới cho việc ghi nhận và phân loại cụ thể hơn đối với tài sản tài chính và nợ tài chính. Tháng 05/2011, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASB công bố IFRS 13 “Đo lường giá trị hợp lý-Fair Value Measurement” và chính thức được áp dụng vào 01/01/2013. Tháng 12/2011 IASB hiệu chỉnh lại IFRS 7 và IFRS 9 và thay đổi ngày có hiệu lực của chuẩn mực IFRS 9 từ ngày 01/01/2015.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 GIÁ TRỊ HỢP LÝ TRONG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN QUỐC TẾ: 1. Quan điểm về giá trị hợp lý: Dự án hội tụ IASB-FASB (IASB-FASB Convergence Project) được tiến hành trong đó có dự án về giá trị hợp lý trong kế toán. IASB ban hành IFRS 13 và FASB ban hành FAS 157, về cơ bản không khác biệt đáng kể, trong đó giá trị hợp lý được định nghĩa như sau: “Giá trị hợp lý là giá mà có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc có thể được thanh toán để chuyển giao một khoản nợ phải trả trong một giao dịch bình thường giữa những người tham gia trên thị trường tại ngày định giá”. Đối tượng tài sản và nợ phải trả (The Asset or Liability): Định nghĩa chỉ tập trung vào đối tượng tài sản và nợ phải trả bởi vì đây là chủ thể ban đầu trong đo lường kế toán.
Tuy nhiên, định nghĩa này cũng được áp dụng cho những đối tượng công cụ tài chính. Xem xét điều kiện, nguồn gốc hoặc hạn chế nào nếu có đối với tài sản hoặc nợ phải trả tại ngày định giá. Giá đầu ra có thể xác định trực tiếp từ thị trường hay ước tính bằng cách sử dụng các kỹ thuật định giá. Những người tham gia thị trường (Market participants): Là những người mua và người bán trên thị trường chính thức (hoặc có thuận lợi) cho giao dịch tài sản và nợ phải trả.
Những người tham gia thị trường có đặc điểm sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Độc lập với đơn vị được báo cáo và thậm chí không phải là các bên liên quan với đơn vị đươc báo cáo. Những người tham gia thị trường này phải có sự hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết tương đối về tài sản hay nợ phải trả và giao dịch dựa trên thông tin hoàn toàn sẵn có. Có đủ năng lực đối với giao dịch tài sản hay nợ phải trả. Sẽ có giao dịch với tài sản hay nợ phải trả trên quan điểm tự nguyện không bị ép buộc phải thực hiện giao dịch đó.
Phạm vi sử dụng giá trị hợp lý: Năm 2005, một khảo sát của nhóm nghiên cứu về chuẩn mực giá trị hợp lý của IASB (International Accounting Standards Board) đã thống kê có 17 chuẩn mực kế toán quốc tế yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý trong một số trường hợp cụ thể, 8 chuẩn mực yêu cầu giá trị hợp lý thông qua tham chiếu đến 1 chuẩn mực khác và 13 chuẩn mực không yêu cầu áp dụng giá trị hợp lý. Có nhiều ý kiến tranh luận về việc sử dụng giá trị hợp lý trong lý thuyết (đánh giá trên báo cáo tài chính) và trong thực tế (tính chính xác và hợp lý khi sử dụng giá trị hợp lý để đánh giá tài sản và nợ phải trả: căn cứ xác định giá trị hợp lý và cách thức định giá của một số tài sản và nợ phải trả…). Để làm rõ vấn đề này chúng ta cần tìm hiểu kỹ các quy định áp dụng đang được thực hiện hiện nay trong IASB, IFRSs (International Financial Reporting Standard) và FASB (US Financial Accounting Standards Board). Sử dụng giá trị hợp lý để ghi nhận vào thời điểm ban đầu như là giá gốc: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Giá trị hợp lý được IAS sử dụng trong những nghiệp vụ trao đổi không bằng tiền (tài sản cho, biếu tặng, được điều chuyển đến, tài sản sinh học, nông nghiệp, tài sản, nợ phải trả trong hợp nhất kinh doanh…) và khi giá trị được xác định sẽ được ghi nhận và thể hiện trong báo cáo tài chính.
Như vậy, trong trường hợp này IASB xem xét giá trị hợp lý ghi nhận như là giá gốc của các loại tài sản, nợ phải trả. Và giá trị hợp lý là giá đầu vào hay giá nhập. IFRS thì lại yêu cầu những trường hợp trao đổi không bằng tiền thì phải được xác định bằng giá có thể được mua vào bằng tiền không dựa vào giá trị hợp lý của những tài sản đem trao đổi, các khoản nợ hay công cụ vốn. IFRS cho phép sử dụng giá trị hợp lý để ghi nhận nghiệp vụ tại ngày phát sinh nghiệp vụ và giá trị này có thể khác so với ngày lập báo cáo tài chính.
Trong trường hợp này có thể được xem giống như hình thức giá gốc.