Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Vận dụng DHHT trong dạy học kiến thức Di truyền và Biến dị chương trình Sinh học 9 – trung học cơ sở. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Thế giới Học HT là ý tưởng có tính xã hội. Trong học tập, cần có sự phối hợp HĐ cá nhân và HĐ có tính xã hội: không có ai hoàn toàn học một cách đơn độc, mà phải học trong sự giao lưu tương tác giữa KT và mối quan hệ xã hội” (GS. Ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, Quintilian đã nêu ý kiến rằng mỗi người học sẽ được lợi từ việc dạy những điều mình biết cho người khác. DHHT không phải là một PP mới lạ, đó là một một tư tưởng DH đã xuất hiện từ lâu trên thế giới dựa trên ý tưởng tất cả cùng làm việc, chia sẻ thông tin với nhau để đạt được mục đích cuối cùng.
Ý tưởng này được John Amos Comenius (1592 - 1670) đưa vào lớp học, khi ông cho rằng HS sẽ học được nhiều hơn từ cách thức học tập như thế. Sau đó, ý tưởng này xây dựng thành PP, được phát triển và sử dụng rộng rãi tại vương quốc Anh vào những năm cuối của thập niên 70 do Joseph Lancaster và Andrew Bell áp dụng. Năm 1806, quan niệm HT đã được đưa đến Mỹ với mục đích làm giảm tính cạnh tranh trong trường học, nó đã được sử dụng và phát triển rất nhanh trong giai đoạn này. Một trong những người đầu tiên đã rất thành công khi chủ trương đưa ý tưởng HT vào lớp học và được nhiều giới quan chức tham khảo học tập là Colonel Francis Parker.
Các PP của Parker đều liên quan đến việc làm cách nào HS có thể HT với nhau trong học tập (cooperatively lerning). Sau Parker là James Coleman (1959), ông nhận thấy tầm quan trọng của cách DH theo kiểu học HT khi tiến hành nghiên cứu các hành vi của HS ở lứa tuổi thanh niên. Một học trò của ông là John Dewey được coi là người ghi dấu ấn sâu sắc nhất trong quá trình tìm hiểu và sử dụng tư tưởng DHHT vào trường học. Chính ông đã đưa các hình thức HĐ hợp tác học tập vào lớp học, theo ông giáo dục phải có vai trò dạy cho con người cách sống, làm việc HT với nhau.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Người thứ hai có ảnh hưởng lớn trong lịch sử DHHT là Kurt Lewin - một nhà tâm lý học xã hội. Ông đã đưa ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố: 1) Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các TV, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các TV; 2) Tình trạng căng thẳng giữa các TV trong nhóm sẽ là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu. Sau đó là Morton Deutsch, sinh viên của Lewin đã mở rộng lí luận của ông về sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội, ông xây dựng một lí thuyết về hợp tác và cạnh tranh. Lí thuyết của Morton Deutsch được mở rộng và áp dụng cho giáo dục, đặc biệt là các vận dụng của chính tác giả tại trường Đại học Minnesota.
Thế hệ thứ hai của tư tưởng Lewin là một số nhà tâm lí học và giáo dục học như: Aronson, hai anh em nhà Johnson. Đặc biệt là Elliot Aronson với mô hình lớp học jigsaw được sử dụng đầu tiên vào 1971 ở Austin Texas. Jigsaw được xây dựng dựa trên nhu cầu thiết yếu lúc bấy giờ: giảm sự căng thẳng xung đột sắc tộc giữa các HS khác màu da và loại bỏ cạnh tranh cá nhân trong lớp học, mô hình này yêu cầu các HS phải biết chia sẻ KT, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất. Jigsaw đã đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức tổ chức HĐhợp tác trong DH.
Năm 1989, hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu 193 trường hợp, họ nhận thấy: HHT thì HS học hỏi được nhiều hơn so với cách học truyền thống. Trước đó Johnson và các đồng nghiệp (1981) đã phân tích 122 nghiên cứu về HT học tập ở một số môn học và ở các độ tuổi khác nhau từ tiểu học cho đến trung học và xử lí kết quả học tập bằng PP đo lường. Giai đoạn thứ ba trong quá trình phát triển và sử dụng tư tưởng DHHT gắn với các tên tuổi nổi tiếng như: Robert Slavin, Kagan, Sholmo, Sharan. Họ đều chứng minh được tính hiệu quả cao của PP DH theo hướng tạo cơ hội cho HS hợp tác trong việc hình thành các kĩ năng xã hội, phát triển tư duy nhận thức và khả năng hòa nhập với thế giới xung quanh.
Sau nghiên cứu của Astin với 200 trường Cao đẳng – Đại học về sự tương tác giữa người học và người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học, giữa người dạy và người học là cơ sở để phát huy tích tích cực, khả năng giao tiếp, tư duy, các hành vi xã hội khác ở người học. Như vậy phương pháp DHHT được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn bởi nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và tâm lí học, nhưng nhìn chung đều được xây dựng trên cơ sở của ba quan điểm: 1)Quan điểm phát triển nhận thức; 2) Quan điểm về hành vi; 3) Sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội. Tóm lại: qua việc tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của PP này, chúng ta có thể nhận rõ tính hiệu quả và tính khả thi cao khi áp dụng phương pháp DHHT vào trong giáo dục, điều đó chứng tỏ phương pháp DHHT đang là xu thế nghiên cứu và ứng dụng trong phạm vi DH trên toàn thế giới. Việt Nam Phương pháp học tập theo nhóm cũng được manh nha từ lâu.
Cho đến cuối thế kỷ XX, học tập nhóm ở Việt Nam diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau: nhóm tự quản, nhóm học tập, sinh hoạt câu lạc bộ, sinh hoạt ngoại khóa…Vào những năm 70, đã có thời gian phong trào tổ chức học nhóm phát triển rầm rộ tạo nên sự đoàn kết gắn bó con người với nhau. Sau đó, do việc tổ chức tự phát, không có sự hướng dẫn nên việc học nhóm của HS cũng như các phong trào HT xã chưa đạt hiệu quả cao, thậm chí còn gây một số ảnh hưởng không tốt và phong trào học nhóm dần lắng xuống. Nguyên nhân chính là do trong nhóm học HT, HT xã chưa phát huy được vai trò và trách nhiệm cá nhân, phát sinh tính ỷ lại, vô trách nhiệm theo kiểu “Cha chung không ai khóc”, tức là quá coi trọng vai trò của tập thể mà bỏ quên vai trò cá nhân. Vì thế, sau một thời gian sự HT có tác dụng ngược lại.
DHHT không phải là một PP mới lạ, nó đã có và phát triển mạnh mẽ trong 30 năm gần đây ở các nước phát triển. Các luận án, luận văn, các bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này ở nước ngoài rất nhiều và đa dạng. Ở Việt Nam, các luận văn, luận án về lĩnh vực này còn ít được nghiên cứu, chủ yếu chỉ là các bài viết nhỏ đăng trên các tạp chí giáo dục. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận án tiến sĩ giáo dục học “Tổ chức DHHT trong môn Toán ở trường THPT” của Hoàng Lê Minh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2007).
Tác giả nêu rõ quan điểm khi tổ chức DHHT ở trường THPT là kết hợp giữa DHHT, học tranh đua và tư duy độc lập của cá nhân. Trong đó tư duy độc lập cá nhân là nền tảng cơ bản, bối cảnh HT là môi trường DH và ý thức thi đua là động lực. Tác giả chỉ ra rằng người học không chỉ nỗ lực một mình mà còn có điều kiện thể hiện ý kiến riêng trong quá trình HĐ hợp tác. Đề tài đề ra định hướng tổ chức DHHT trong dạy và học bộ môn Toán ở trường THPT, quy trình tổ chức giờ học HT, các biện pháp sư phạm nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp DHHT.
Tác giả đã nêu cách tổ chức, thiết kế giờ học HT trong môn Toán ở trường THPT và có minh hoạ cụ thể. Đây là công trình nghiên cứu vận dụng phương pháp DHHT vào dạy và học môn toán ở trường THPT, với đầy đủ các dạng bài lên lớp toán học. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo bổ ích không chỉ cho GV dạy toán mà còn thiết thực cho những ai quan tâm đến đổi mới PPDH, đặc biệt là phương pháp DHHT. Luận văn thạc sĩ giáo dục học “Vận dụng DHHT trong dạy học Sinh học 11” của Nguyễn Thị Thu Trang thuộc trường Đại học Thái Nguyên (2009).
Đề tài đã nghiên cứu: cơ sở lí luận về DHHT, quy trình tổ chức một giờ học có áp dụng DHHT, thiết kế HĐ nhóm dựa vào phiếu học tập và thực hành thí nghiệm. Phần cơ sở lí luận, tác giả đã cung cấp thông tin về DHHT trên thế giới nhưng chưa có sự phân tính, nhận định riêng của cá nhân. Chương hai tác giả thiết kế các giáo án có vận dung DHHT, nhưng chưa khắc phục được tình trạng “ăn theo” của các HS lười nhác trong HĐ nhóm - một trong những nhược điểm lớn nhất của DH theo nhóm. Đề tài chưa đề xuất phương án đánh giá HĐ nhóm của nhóm cũng như của cá nhân.
Khóa luận tốt nghiệp: “Thử nghiệm phương pháp HT nhóm nhỏ và PP đóng vai trong DH môn hóa lớp 10 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực của HS” của Nguyễn Thị Khánh Chi (2007), trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài đã nghiên cứu: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Sơ lược về PPDHHT trong nhóm nhỏ các phần: khái niệm, tác dụng, quy trình tổ chức, hạn chế và vận dụng. - Một số hình thức sử dụng phương pháp HT nhóm nhỏ trong DH hóa học: trả lời câu hỏi trong phiếu học tập; trả lời câu hỏi do GV trực tiếp đưa ra; thực hành thí nghiệm theo nhóm; mô tả thí nghiệm; quan sát hình vẽ hay mô hình; hỏi đáp giữa các nhóm; cùng nhau nghiên cứu nội dung của bài học; giải bài tập hóa học theo nhóm; thiết kế được 16 giáo án lớp 10 nâng cao. Khóa luận tốt nghiệp: “Thiết kế giáo án DH theo nhóm nhỏ kết hợp công nghệ thông tin” của Đoàn Ngọc Anh (2007), trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.