Tổng quan nghiên cứu

Thị trường công cụ tài chính phái sinh tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển kể từ giao dịch hợp đồng tương lai hàng hóa cà phê đầu tiên vào năm 1990 tại Đắk Lắk. Tính đến năm 2011, quy mô vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại nhà nước khảo sát đã đạt mức từ 4.050 tỷ đồng đến hơn 20.722 tỷ đồng. Đi cùng với sự tăng trưởng về quy mô vốn là sự gia tăng nhanh chóng của các giao dịch phái sinh tiền tệ, lãi suất và hàng hóa. Tuy nhiên, hệ thống kế toán hiện hành tại Việt Nam vẫn chủ yếu ghi nhận các công cụ phái sinh ở trạng thái ngoại bảng theo giá trị danh nghĩa gốc, chưa phản ánh đúng bản chất kinh tế và biến động giá trị thị trường.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận theo các chuẩn mực kế toán quốc tế gồm IAS 32, IAS 39, IFRS 7, IFRS 9 và IFRS 13, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng hạch toán phái sinh tại 9 ngân hàng thương mại tiêu biểu trong năm tài chính 2011. Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán đo lường giá trị hợp lý, kế toán phòng ngừa rủi ro và thuyết minh thông tin minh bạch theo thông lệ toàn cầu.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế kế toán tài chính, hỗ trợ các ngân hàng kiểm soát tổn thất do biến động tỷ giá và lãi suất, đồng thời nâng cao mức độ đáp ứng chuẩn mực an toàn vốn theo Hiệp ước Basel II và định hướng Basel III trong giai đoạn 2012 đến 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Lý thuyết quản trị rủi ro tài chính hiện đại và Lý thuyết kế toán theo giá trị hợp lý. Khung chuẩn mực quốc tế áp dụng bao gồm 5 chuẩn mực trụ cột: IAS 32 về trình bày công cụ tài chính, IAS 39 và IFRS 9 về phân loại và đo lường, IFRS 7 về thuyết minh rủi ro, cùng IFRS 13 về kỹ thuật xác định giá trị hợp lý.

Theo quy định tại IFRS 9 Phụ lục A, công cụ tài chính phái sinh được định nghĩa là một hợp đồng thỏa mãn đồng thời 3 đặc tính cơ bản: giá trị biến động theo một biến số cơ sở xác định (như lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán hoặc chỉ số tín dụng), không đòi hỏi vốn đầu tư thuần ban đầu hoặc khoản đầu tư ban đầu rất nhỏ, và được thanh toán tại một thời điểm trong tương lai.

Bên cạnh đó, nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Công cụ tài chính phức hợp: Hợp đồng chủ phi phái sinh có chứa công cụ phái sinh chìm làm thay đổi luồng tiền hợp đồng.
  • Tài sản và nợ phải trả tài chính đo lường theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ (FVTPL): Nhóm phân loại bắt buộc đối với hầu hết các hợp đồng phái sinh nắm giữ vì mục đích kinh doanh hoặc tự doanh.
  • Kế toán phòng ngừa rủi ro (Hedge Accounting): Cơ chế ghi nhận bù trừ đồng thời giữa công cụ phòng ngừa và khoản mục được phòng ngừa nhằm giảm biến động lợi nhuận.
  • Giá trị hợp lý: Mức giá có thể nhận được khi bán một tài sản hoặc chuyển giao một khoản nợ trong giao dịch tự nguyện giữa các bên tham gia thị trường tại ngày đo lường.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính riêng năm 2011 đã được kiểm toán độc lập của 9 ngân hàng thương mại Việt Nam, kết hợp cùng hệ thống văn bản pháp quy gồm Thông tư 210/2009/TT-BTC, Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN, Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN và Công văn 7404/NHNN/KTTC.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm 9 ngân hàng thương mại, đại diện cho hơn 60% tổng tài sản toàn hệ thống ngân hàng thời điểm năm 2011. Mẫu nghiên cứu được phân bổ cân đối theo 3 tiêu chí:

  • Quy mô vốn: 5 ngân hàng có vốn điều lệ trên 10.000 tỷ đồng (Vietinbank với 20.722 tỷ đồng, Vietcombank với 19.045 tỷ đồng, BIDV với 12.563 tỷ đồng, Eximbank với 12.229 tỷ đồng, Sacombank với 10.677 tỷ đồng) và 4 ngân hàng có vốn điều lệ từ 4.000 đến 10.000 tỷ đồng (ACB với 9.965 tỷ đồng, MB với 7.000 tỷ đồng, SHB với 4.795 tỷ đồng, Habubank với 4.050 tỷ đồng).
  • Hình thức sở hữu: Bao gồm 3 ngân hàng thương mại nhà nước và 6 ngân hàng thương mại cổ phần.
  • Độ tin cậy dữ liệu: 100% báo cáo tài chính trong mẫu được kiểm toán bởi các công ty thuộc nhóm Big 4 gồm Ernst & Young, KPMG và PwC.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích so sánh định tính, phương pháp lịch sử và thống kê mô tả. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm nhận diện rõ khoảng cách pháp lý giữa hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) với Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS), đồng thời đo lường chính xác mức độ tuân thủ thực tế tại các tổ chức tín dụng. Timeline nghiên cứu tập trung đánh giá số liệu năm 2011 và xây dựng lộ trình thực thi chia làm hai giai đoạn: 2012-2015 và 2016-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại 9 ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2011 cho thấy 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, 100% ngân hàng trong mẫu khảo sát (9 trên 9 ngân hàng) chưa ghi nhận tài sản và nợ phải trả phái sinh trên Bảng cân đối kế toán theo giá trị hợp lý. Các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi lãi suất và quyền chọn ngoại tệ chỉ được theo dõi ngoại bảng theo giá trị hợp đồng danh nghĩa.

Thứ hai, tồn tại khoảng cách pháp lý rất lớn khi Thông tư 210/2009/TT-BTC mới chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn trình bày và thuyết minh, thiếu hoàn toàn các quy định bắt buộc về ghi nhận ban đầu và đo lường sau ghi nhận ban đầu theo giá trị hợp lý (FVTPL). Kết quả là 0% ngân hàng thương mại áp dụng kế toán phòng ngừa rủi ro theo chuẩn mực IAS 39 do thiếu cơ chế hạch toán bù trừ tổn thất.

Thứ ba, đối với các công cụ tài chính phức hợp, hơn 85% các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi (điển hình như đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi đầu tiên năm 2006 của Sacombank) chưa được thực hiện tách cấu phần nợ gốc và cấu phần vốn chủ sở hữu theo yêu cầu của IAS 32 đoạn 29, dẫn đến việc phản ánh sai lệch hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu.

Thứ tư, mức độ tuân thủ thuyết minh rủi ro theo IFRS 7 còn rất hạn chế. Chỉ có khoảng 33% ngân hàng (3 trên 9 ngân hàng) thuyết minh định lượng sơ bộ về rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản, trong khi 67% số ngân hàng còn lại chỉ dừng lại ở các mô tả định tính chung chung mà không lượng hóa mức độ phơi nhiễm rủi ro phái sinh.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ 3 nhóm nguyên nhân cốt lõi. Về mặt pháp lý, hệ thống tài khoản kế toán theo Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN và Quyết định 16/2007/QĐ-NHNN được thiết kế dựa trên nguyên tắc giá gốc, chưa có tài khoản nội bảng phản ánh chênh lệch đánh giá lại theo giá trị hợp lý. Về thị trường, thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn này còn thiếu tính thanh khoản cao, khiến việc xác định giá trị hợp lý cấp độ 1 (giá niêm yết trên thị trường giao dịch tích cực) và cấp độ 2 (mô hình định giá với dữ liệu đầu vào quan sát được) theo IFRS 13 gặp nhiều trở ngại. Về năng lực nội tại, hệ thống công nghệ ngân hàng lõi và trình độ nhân sự kế toán - quản trị rủi ro chưa đồng bộ.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu trước đây về kế toán công cụ tài chính tại Việt Nam của các chuyên gia đầu ngành trong giai đoạn 2007-2009. Tuy nhiên, luận văn đã chỉ ra bước chuyển biến rõ rệt sau khi Thông tư 210/2009/TT-BTC có hiệu lực, đó là các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện thuyết minh phân loại công cụ tài chính trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Để trực quan hóa các phát hiện, dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày qua bảng ma trận so sánh 5 tiêu chí ghi nhận giữa VAS và IFRS 9, kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ 100% ngân hàng hạch toán ngoại bảng và tỷ lệ 33% ngân hàng đáp ứng thuyết minh định lượng IFRS 7. Ý nghĩa của phát hiện này khẳng định tính cấp bách của việc tái cấu trúc hệ thống kế toán công cụ tài chính nhằm minh bạch hóa sức khỏe tài chính ngân hàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất với lộ trình và chỉ số mục tiêu cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý kế toán quốc gia. Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước tiến hành soạn thảo và ban hành Chuẩn mực Kế toán Việt Nam về công cụ tài chính tương thích với IAS 32, IFRS 7, IFRS 9 và IFRS 13 trong giai đoạn 2012-2015. Mục tiêu cụ thể là đạt 100% ngân hàng thương mại niêm yết chuyển đổi việc hạch toán công cụ phái sinh từ ngoại bảng sang ghi nhận nội bảng theo giá trị hợp lý vào năm 2015.

Thứ hai, nâng cấp hệ thống tài khoản và hướng dẫn kế toán nghiệp vụ phái sinh. Ngân hàng Nhà nước cần sửa đổi Quyết định 479/2004/QĐ-NHNN, bổ sung các cặp tài khoản nội bảng phản ánh tài sản tài chính phái sinh, nợ phải trả tài chính phái sinh và chênh lệch đánh giá lại tài sản theo FVTPL. Thời gian hoàn thành trước quý 4 năm 2014, hướng tới mục tiêu xử lý tự động 100% các giao dịch phái sinh tiền tệ và lãi suất trên hệ thống Core Banking.

Thứ ba, triển khai áp dụng kế toán phòng ngừa rủi ro. Khối Nguồn vốn và Khối Quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại cần xây dựng quy trình lập hồ sơ phòng ngừa rủi ro chuẩn hóa, thiết lập mô hình kiểm tra tính hiệu quả của giao dịch phòng ngừa trong biên độ dao động từ 80% đến 125% theo IAS 39. Giai đoạn thí điểm diễn ra từ năm 2013 đến 2015, mục tiêu đạt trên 50% danh mục phái sinh phòng ngừa rủi ro được hạch toán bù trừ chính thức vào năm 2016.

Thứ tư, xây dựng mô hình định giá thị trường và đào tạo nguồn nhân lực. Ban lãnh đạo các ngân hàng thương mại cần đầu tư mua sắm các phần mềm định giá tài chính chuyên dụng (như đường cong lãi suất zero-coupon, mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes), đồng thời tổ chức ít nhất 10 khóa đào tạo chuyên sâu về IFRS 9 cho đội ngũ kế toán và kiểm toán nội bộ trong giai đoạn 2012-2014, đảm bảo 100% cán bộ phụ trách nắm vững kỹ thuật hạch toán phái sinh phức hợp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, Giám đốc tài chính, Kế toán trưởng và Chuyên viên kế toán tại các ngân hàng thương mại. Luận văn cung cấp hướng dẫn chi tiết về phương pháp định giá FVTPL, hạch toán giao dịch hoán đổi lãi suất, quyền chọn tiền tệ và kỹ thuật tách công cụ phái sinh chìm trong trái phiếu chuyển đổi, giúp tối ưu hóa công tác lập báo cáo tài chính theo chuẩn quốc tế.

Thứ hai, Cơ quan quản lý nhà nước gồm Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Các phân tích thực trạng tại 9 ngân hàng là căn cứ thực tiễn giá trị để các nhà lập quy xây dựng lộ trình áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế VFRS/IFRS và sửa đổi chế độ kế toán tổ chức tín dụng giai đoạn 2012-2020.

Thứ ba, Kiểm toán viên độc lập và Chuyên viên phân tích tài chính. Nghiên cứu cung cấp khung đối chiếu và bộ tiêu chí đánh giá mức độ phơi nhiễm rủi ro phái sinh ngoại bảng, hỗ trợ đánh giá trung thực tình hình tài chính và mức độ tuân thủ thuyết minh IFRS 7 của các ngân hàng được kiểm toán.

Thứ tư, Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kế toán - Tài chính - Ngân hàng. Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu về chuyển đổi chuẩn mực kế toán quốc tế, kết nối lý thuyết kế toán phái sinh với các hiệp ước giám sát ngân hàng toàn cầu như Basel II và Basel III.

Câu hỏi thường gặp

Kế toán công cụ tài chính phái sinh theo giá gốc ngoại bảng gây ra rủi ro gì cho ngân hàng thương mại? Phương pháp giá gốc ngoại bảng che giấu toàn bộ biến động lỗ lãi chưa thực hiện khi thị trường đảo chiều. Tại 9 ngân hàng khảo sát năm 2011, các hợp đồng hoán đổi lãi suất và kỳ hạn tiền tệ quy mô hàng chục nghìn tỷ đồng không được ghi nhận nội bảng, làm sai lệch giá trị tài sản thực và che khuất mức độ phơi nhiễm rủi ro thị trường.

Sự khác biệt căn bản giữa IFRS 9 và IAS 39 trong phân loại công cụ phái sinh là gì? IFRS 9 loại bỏ các quy tắc phân loại phức tạp của IAS 39 và dựa trên 2 yếu tố: mô hình kinh doanh và đặc tính luồng tiền hợp đồng. Toàn bộ công cụ phái sinh độc lập không dùng cho phòng ngừa rủi ro đều bắt buộc đo lường theo giá trị hợp lý qua lãi lỗ (FVTPL), thay vì chia thành 4 nhóm phức tạp như trước.

Công cụ phái sinh chìm trong hợp đồng phức hợp được xử lý kế toán như thế nào? Theo IAS 32 và IFRS 9, công cụ phái sinh chìm (như quyền chọn chuyển đổi trong trái phiếu chuyển đổi phát hành năm 2006 của Sacombank) phải được tách rời khỏi hợp đồng chủ nếu có đặc tính kinh tế không gắn liền mật thiết, sau đó ghi nhận riêng biệt thành nợ phải trả hoặc vốn chủ sở hữu theo giá trị hợp lý.

Kế toán phòng ngừa rủi ro mang lại lợi ích cụ thể nào cho ngân hàng? Kế toán phòng ngừa rủi ro giúp bù trừ sự thay đổi giá trị hợp lý giữa công cụ phái sinh và khoản mục được phòng ngừa trong cùng kỳ báo cáo. Cơ chế này loại bỏ sự biến động bất thường của chỉ tiêu lợi nhuận trên Báo cáo kết quả kinh doanh, phản ánh đúng hiệu quả của chiến lược bảo hiểm rủi ro danh mục tín dụng.

Rào cản lớn nhất khi xác định giá trị hợp lý theo IFRS 13 tại Việt Nam là gì? Rào cản lớn nhất là sự thiếu vắng thị trường thứ cấp giao dịch tập trung đối với các công cụ phái sinh lãi suất và hàng hóa. Thiếu giá niêm yết cấp độ 1 buộc các ngân hàng phải dùng mô hình định giá cấp độ 2 hoặc cấp độ 3 với nhiều giả định chủ quan, đòi hỏi hạ tầng dữ liệu và nhân sự rất cao.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kế toán công cụ tài chính phái sinh theo chuẩn mực IAS 32, IAS 39, IFRS 7, IFRS 9 và IFRS 13, khẳng định tính tất yếu của thước đo giá trị hợp lý.
  • Phân tích thực trạng 9 ngân hàng thương mại Việt Nam năm 2011 chỉ ra 100% ngân hàng vẫn hạch toán ngoại bảng theo giá danh nghĩa và 0% ngân hàng áp dụng kế toán phòng ngừa rủi ro chuẩn hóa.
  • Làm rõ nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ sự thiếu hụt hành lang pháp lý, hạ tầng định giá thị trường chưa hoàn thiện và hạn chế về năng lực kỹ thuật của hệ thống ngân hàng thương mại.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi với lộ trình triển khai 2 giai đoạn (2012-2015 và 2016-2020), gắn liền với việc tuân thủ các chuẩn mực an toàn vốn Basel II và Basel III.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu phân tích thực chứng đáng tin cậy phục vụ công tác xây dựng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Việt Nam và đổi mới quản trị ngân hàng hiện đại.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sớm ban hành thông tư hướng dẫn thí điểm trong giai đoạn 2013-2015 trước khi áp dụng bắt buộc toàn diện vào năm 2020. Các ngân hàng thương mại cần chủ động đầu tư công nghệ và chuẩn hóa quy trình quản trị rủi ro ngay từ hôm nay để đảm bảo hội nhập tài chính quốc tế thành công.