Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Công tác vận động quần chúng ở Ba Vì, Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" do tác giả Đỗ Thị Thu Phương thực hiện năm 2019 tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 (dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Thúy Vân).
Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả chỉ rõ truyền thống "trọng dân", "lấy dân làm gốc" là bài học kinh nghiệm xuyên suốt tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Kế thừa truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quyết định của quần chúng nhân dân đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng và để lại hệ thống tư tưởng sâu sắc về công tác dân vận. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân là yêu cầu cấp thiết của Đảng và Nhà nước. Huyện Ba Vì là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa (cái nôi của huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh), có vị trí địa lý bán sơn địa đặc thù của Thủ đô Hà Nội với sự cùng sinh sống của đồng bào các dân tộc Kinh, Mường, Dao. Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, công tác vận động quần chúng tại huyện Ba Vì trong giai đoạn khảo sát vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, chưa huy động tối đa tiềm năng của nhân dân ở một số địa bàn miền núi. Do đó, việc nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác này tại huyện Ba Vì mang tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, từ đó khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng.
- Đánh giá thực trạng thực hiện công tác vận động quần chúng ở huyện Ba Vì, Hà Nội theo tư tưởng Hồ Chí Minh và phân tích các nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả của công tác vận động quần chúng ở huyện Ba Vì hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác vận động quần chúng ở Ba Vì, Hà Nội hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, đánh giá tình hình thực tế từ năm 2012 đến năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, khóa luận được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (đặc biệt là quan điểm duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng sản xuất cơ bản và là động lực của mọi cuộc cách mạng xã hội); hệ thống quan điểm toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "dân", "quần chúng" và "công tác dân vận"; cùng các nghị quyết, chỉ thị, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tác giả đã kế thừa có chọn lọc các tiền đề tư tưởng phương Đông và truyền thống dân tộc:
- Tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử (tư tưởng "trọng dân", "tín dân", chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho dân) và Mạnh Tử (quan điểm "dân vi quý", người lao động trực tiếp tạo ra của cải duy trì xã hội).
- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn với ba nguyên tắc: "Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc".
- Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi về việc trân trọng sức lao động của người dân ("thường nghĩ quy mô lớn lao, lộng lẫy đều là sức lao khổ của quân dân").
- Hệ thống văn bản pháp lý và văn kiện chỉ đạo của Đảng: Hiến pháp năm 1946 (đặc biệt là Chương II, Điều 6 quy định quyền dân chủ của nhân dân và nghĩa vụ phục vụ nhân dân của cơ quan nhà nước); Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Nghị quyết số 25-NQ/TW về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới; Quyết định số 290 về ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW về giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, chính quyền; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn:
- Phương pháp luận triết học Mác - Lênin.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết để làm rõ các khái niệm, quan điểm tư tưởng.
- Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic nhằm tái hiện quá trình hình thành, phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh và tiến trình triển khai công tác vận động quần chúng tại Ba Vì.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu số liệu báo cáo thực tiễn để đánh giá thành tựu và hạn chế.
Nguồn dữ liệu của công trình bao gồm:
- Các tác phẩm kinh điển, bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh (đặc biệt là bài báo "Dân vận" đăng trên báo Sự Thật số 120 ngày 15/10/1949, tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Di chúc).
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì lần thứ XX (2005 - 2010), Đại hội lần thứ XXI (2010 - 2015).
- Báo cáo số liệu kinh tế - xã hội huyện Ba Vì giai đoạn 2005 - 2012; tài liệu quy hoạch Vườn quốc gia Ba Vì.
- Báo cáo sơ kết 9 tháng đầu năm và nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2018 của Ban Dân vận Huyện ủy Ba Vì; Báo cáo số 03-BC/BCĐ ngày 29/6/2018 của Ban chỉ đạo công tác tôn giáo huyện Ba Vì; các báo cáo phối hợp giữa Ban Dân vận với Công an huyện, Ban Chỉ huy Quân sự huyện, Phòng Dân tộc huyện và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Ba Vì.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh qua hai tiểu mục lớn:
-
Một số khái niệm cơ bản:
- Khái niệm "quần chúng": Quần chúng hay nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm rộng lớn, bao gồm toàn thể nhân dân Việt Nam ("mọi con dân nước Việt", "mỗi một con Rồng cháu Tiên", không phân biệt già trẻ, gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc). Quần chúng là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội.
- Khái niệm "Công tác vận động quần chúng": Đồng nghĩa với khái niệm "công tác dân vận", là quá trình tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục để nhân dân tin tưởng, ủng hộ và tự giác thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân theo phương châm: "Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công".
- Khái niệm "Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng": Là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; về trách nhiệm của Đảng và Nhà nước; về nội dung, phương thức tuyên truyền, tổ chức nhân dân và các tiêu chuẩn đạo đức, tác phong của người cán bộ dân vận.
-
Vai trò của quần chúng nhân dân và những nội dung cơ bản của công tác vận động quần chúng:
- Vai trò của quần chúng: Khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhân dân là gốc của nước, là nguồn lực nội sinh to lớn nhất ("Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân").
- Bốn nội dung cốt lõi:
- Thứ nhất, xây dựng và củng cố, phát triển khối đại đoàn kết dân tộc: Đại đoàn kết là đường lối chiến lược xuyên suốt. Hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết là Đảng Cộng sản; Nhà nước là trụ cột bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Đoàn kết phải dựa trên việc giải quyết hài hòa giữa lợi ích chung của quốc gia - dân tộc và lợi ích riêng chính đáng của từng giai cấp, tầng lớp.
- Thứ hai, trách nhiệm của Đảng và chính quyền trong công tác vận động quần chúng: Xác định rõ cơ chế "Dân là chủ và dân làm chủ", còn Đảng, Chính phủ, cán bộ là "công bộc", là "đầy tớ" trung thành của nhân dân. Mọi cán bộ, đảng viên, công chức đều phải có trách nhiệm làm công tác dân vận theo vị trí công tác của mình, khắc phục tư tưởng xem nhẹ hoặc khoán trắng cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.
- Thứ ba, tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng: Thực hiện giáo dục, giác ngộ quần chúng từng bước; gắn liền công tác dân vận với các phong trào hành động cách mạng cụ thể; tôn trọng phong tục tập quán tốt đẹp của địa phương; phát huy phương châm hành động thực tiễn: "Mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm", phê phán lối làm việc quan liêu, "ngồi bàn giấy", "nói suông".
- Thứ tư, yêu cầu đối với cán bộ làm công tác vận động quần chúng: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Người làm công tác dân vận phải có phẩm chất đạo đức "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", thật sự gần dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, học hỏi kinh nghiệm từ nhân dân và giải quyết công việc thấu tình đạt lý.
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng vào việc thực hiện công tác vận động quần chúng ở Ba Vì, Hà Nội hiện nay
Chương 2 trình bày bức tranh thực tiễn sinh động về huyện Ba Vì và quá trình triển khai công tác vận động quần chúng tại địa phương giai đoạn 2012 - 2018:
- Những nhân tố tác động đến công tác vận động quần chúng ở Ba Vì:
- Điều kiện tự nhiên, dân cư: Ba Vì nằm ở phía Tây Bắc Thủ đô Hà Nội (cách trung tâm 40 km), diện tích tự nhiên 414 km², dân số trên 267 nghìn người với hơn 10 dân tộc cùng chung sống (trong đó 3 dân tộc chủ yếu là Kinh, Mường, Dao; đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 40% dân số). Huyện có 31 đơn vị hành chính cấp xã/thị trấn (bao gồm 7 xã miền núi như Vân Hòa, Yên Bài, Minh Quang, Khánh Thượng... và 1 xã bãi giữa sông Hồng). Địa hình chia làm 3 tiểu vùng: vùng núi, vùng đồi (chiếm 58% diện tích đất đai) và vùng đồng bằng ven sông Hồng (chiếm 41% diện tích). Huyện tái hợp nhất về Thủ đô Hà Nội từ tháng 8/2008 theo Nghị quyết 15 của Quốc hội khóa XII. Hệ sinh thái phong phú với Vườn quốc gia Ba Vì có hơn 2.000 loài thực vật (trong đó có loài cây quý như Bách xanh, Thông đỏ ghi trong Sách đỏ Việt Nam) và hàng trăm loài động vật hoang dã.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Tổng giá trị sản xuất toàn huyện đạt 10 tỷ đồng, giá trị tăng thêm đạt 5 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 20% (thời điểm hết năm 2012). Sản xuất nông nghiệp có hai sản phẩm thế mạnh đặc trưng là chè búp hương khô (sản lượng 13.000 tấn/năm) và sữa tươi. Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp có 2 cụm công nghiệp (Cam Thượng và Đồng Giai xã Vật Lại) cùng 12 làng nghề. Hoạt động du lịch phát triển với 15 đơn vị kinh doanh, thu hút 2 triệu lượt khách/năm, doanh thu đạt 75 tỷ đồng. Lĩnh vực an sinh xã hội giải quyết việc làm cho gần 11.000 lao động; 18 trường đạt chuẩn quốc gia; 25/31 trạm y tế có bác sĩ và 30/31 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế; 97 làng và 46 cơ quan đạt danh hiệu văn hóa.
| Nhóm chỉ tiêu |
Số liệu / Hiện trạng cụ thể tại Ba Vì (Giai đoạn khảo sát) |
| Quy mô địa giới & Dân số |
Diện tích: 414 km²; Dân số: >267.000 người; 31 xã/thị trấn (7 xã miền núi, 1 xã bãi sông). |
| Cơ cấu dân tộc |
Gồm Kinh, Mường, Dao (>10 dân tộc cùng sống; dân tộc thiểu số chiếm 40%). |
| Cơ cấu địa hình đất đai |
Đất vùng đồi núi: 18.468 ha (58%); Đất vùng đồng bằng: 12.893 ha (41%). |
| Tăng trưởng & Sản xuất (2012) |
Tăng trưởng: 20%; Chè búp: 13.000 tấn/năm; 2 cụm CN (Cam Thượng, Đồng Giai), 12 làng nghề. |
| Du lịch & Dịch vụ (2012) |
15 đơn vị kinh doanh du lịch, đón 2 triệu lượt khách, doanh thu 75 tỷ đồng. |
| Văn hóa - Xã hội & Y tế (2012) |
18 trường chuẩn quốc gia; 25/31 trạm y tế có bác sĩ; 30/31 xã đạt chuẩn y tế; 97 làng văn hóa. |
| Kết quả Dân vận (2012 - 2018) |
20 đợt phát động, 150 buổi tuyên truyền cho 30.544 lượt người; 15 cuộc tiếp xúc cử tri. |
-
Đánh giá thực trạng công tác vận động quần chúng (2012 - 2018):
- Kết quả đạt được: Huyện ủy và UBND huyện Ba Vì duy trì nền nếp các buổi tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp Quốc hội, HĐND thành phố; tổ chức họp đối thoại trực tiếp lắng nghe nhân dân (tiêu biểu như việc lấy ý kiến nhân dân 7 xã miền núi về Dự án quần thể du lịch, nghỉ dưỡng sinh thái xã Vân Hòa). Giai đoạn 2012 - 2018, Ban Dân vận Huyện ủy phối hợp tổ chức được 20 đợt phát động quần chúng, 150 buổi tuyên truyền cho 30.544 lượt quần chúng nhân dân, tổ chức 15 cuộc tiếp xúc cử tri, mở hơn 15 lớp bồi dưỡng chính trị lồng ghép; phối hợp với Công an huyện tổ chức hàng trăm cuộc gặp gỡ, tiếp xúc các đối tượng cá biệt. Đội ngũ cán bộ xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu như đồng chí Hoàng Văn Thảo (sinh năm 1981, người dân tộc Mường tại thôn Ri, xã Minh Quang) - một trong 30 gương mặt người có uy tín tiêu biểu của huyện.
- Hạn chế và tồn tại: Hiệu quả tuyên truyền vận động ở một số xã vùng sâu, vùng xa miền núi (như Vân Hòa, Yên Bài, Minh Quang, Khánh Thượng) còn thấp, chủ trương của Đảng có lúc chưa đến kịp thời với đồng bào dân tộc thiểu số; việc phát huy vai trò của trưởng thôn, người có uy tín trong đồng bào tôn giáo chưa đồng đều; còn tình trạng cán bộ quan liêu, xa dân, chưa trực tiếp xuống cơ sở; công tác kiểm tra, giám sát quy chế dân chủ cơ sở (về thu chi ngân sách xã, quy hoạch đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng) có nơi còn hình thức; tồn tại vi phạm trật tự xây dựng phức tạp (như vụ việc công trình xây dựng trái phép tại thôn Phú Yên, xã Yên Bài nêu trong Báo cáo số 03-BC/BCĐ ngày 29/6/2018).
- Nguyên nhân: Thành tựu bắt nguồn từ sự đoàn kết của Đảng bộ và nhân dân, sự chỉ đạo sát sao của Huyện ủy và việc triển khai Chỉ thị số 30-CT/TW. Hạn chế xuất phát từ địa bàn bán sơn địa rộng, giao thông chia cắt, cơ sở vật chất khó khăn; trình độ dân trí và nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân miền núi còn hạn chế; năng lực của một số cán bộ cơ sở chưa đồng đều và cấp ủy ở một số nơi chưa thực sự coi trọng công tác dân vận.
-
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
- Giải pháp 1: Tiếp tục xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Đảng bộ và chính quyền huyện Ba Vì (đẩy mạnh tuyên truyền, chăm lo chính sách an sinh xã hội đặc thù cho các xã miền núi, kiên quyết đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc chia rẽ khối đoàn kết).
- Giải pháp 2: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ và chính quyền huyện Ba Vì trong công tác vận động quần chúng (nâng cao năng lực lãnh đạo, định kỳ tổ chức đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân để giải quyết kịp thời các bức xúc).
- Giải pháp 3: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng (nhân rộng phong trào "Dân vận khéo", làm tốt công tác dân vận trong các dự án trọng điểm như giải phóng mặt bằng phục vụ dự án sông Tích, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở).
- Giải pháp 4: Tiếp tục quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác vận động quần chúng tại Ba Vì (bồi dưỡng kỹ năng dân vận, nâng cao đạo đức công vụ, khắc phục dứt điểm bệnh quan liêu, vô cảm, thực hiện đúng phương châm "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân").
Kết quả và đóng góp
Về kết quả khoa học, công trình đã:
- Hệ thống hóa các quan điểm lý luận cốt lõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng (khái niệm, vị trí, vai trò, 4 nội dung lớn và phong cách dân vận).
- Cung cấp bức tranh toàn diện, chân thực về tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng công tác dân vận tại huyện Ba Vì giai đoạn 2012 - 2018 thông qua các chỉ tiêu định lượng cụ thể: 20 đợt phát động quần chúng, 150 buổi tuyên truyền thu hút 30.544 lượt người tham gia, 15 cuộc tiếp xúc cử tri chuyên đề, giải quyết các vướng mắc về đất đai tại dự án sông Tích và dự án du lịch sinh thái xã Vân Hòa.
- Đánh giá thẳng thắn cả mặt tích cực lẫn những điểm nghẽn tại 7 xã miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Về đóng góp mới và giá trị thực tiễn:
- Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt, không trùng lặp đầu tiên khảo sát trực tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng trên địa bàn huyện Ba Vì sau giai đoạn hợp nhất về Hà Nội (2008).
- Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ, xuất phát từ đặc thù địa bàn bán sơn địa đa dân tộc, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho cấp ủy, chính quyền, Ban Dân vận Huyện ủy và khối vận cơ sở của huyện Ba Vì trong việc củng cố khối đại đoàn kết và giữ vững an ninh chính trị tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Do điều kiện nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp đại học, phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong ranh giới hành chính của một huyện (huyện Ba Vì) trong khung thời gian 2012 - 2018; nguồn dữ liệu thực tiễn chủ yếu dựa vào các báo cáo hành chính định kỳ của Huyện ủy, UBND và Ban Dân vận Huyện ủy mà chưa có điều kiện triển khai các cuộc điều tra xã hội học định lượng sâu trên diện rộng với mẫu khảo sát lớn đối với các tầng lớp nhân dân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình công tác vận động quần chúng giữa các huyện có đặc điểm bán sơn địa/miền núi tương đồng của Thủ đô Hà Nội (như Mỹ Đức, Thạch Thất, Quốc Oai); cập nhật, theo dõi biến động thực tiễn dân vận sau năm 2018; đi sâu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội lâu dài của các mô hình "Dân vận khéo" trong xây dựng nông thôn mới và quản lý đất đai vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên và giảng viên: Chuyên ngành Giáo dục Chính trị, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước, Quản lý công tại các trường đại học sư phạm, trường chính trị tỉnh/thành phố và Học viện Báo chí & Tuyên truyền khi tìm hiểu về phương pháp luận và nội dung công tác dân vận.
- Cán bộ lãnh đạo, công chức khối Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Đặc biệt là đội ngũ cán bộ dân vận tại các huyện ngoại thành, vùng bán sơn địa, địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số và tín đồ tôn giáo sinh sống.
- Các phần nội dung đáng tham khảo nhất: Tiểu mục phân tích 4 nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận (Chương 1) và phần tổng kết kinh nghiệm xử lý các vụ việc thực tế tại cơ sở, giải pháp đối với 7 xã miền núi của huyện Ba Vì (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận xác định phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu như thế nào?
Khóa luận tập trung nghiên cứu công tác vận động quần chúng tại địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong phạm vi thời gian từ năm 2012 đến năm 2018.
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng gồm những nội dung cơ bản nào theo phân tích của tác giả?
Tác giả xác định 4 nội dung cơ bản: (1) Xây dựng, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc; (2) Trách nhiệm của Đảng và chính quyền trong công tác vận động quần chúng; (3) Tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng; (4) Các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức và tác phong đối với cán bộ làm công tác vận động quần chúng.
3. Địa bàn huyện Ba Vì có những đặc điểm tự nhiên, dân cư nào tác động trực tiếp đến công tác dân vận?
Ba Vì là huyện bán sơn địa rộng 414 km², gồm 31 xã/thị trấn (trong đó có 7 xã miền núi và 1 xã bãi sông Hồng). Dân số trên 267 nghìn người với hơn 10 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là người Mường và Dao) chiếm tới 40% dân số, tạo nên tính chất đa dạng về văn hóa nhưng cũng đặt ra thách thức về giao thông đi lại và trình độ nhận thức không đồng đều giữa các tiểu vùng.
4. Kết quả định lượng nổi bật trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tại huyện Ba Vì giai đoạn 2012 - 2018 là gì?
Ban Dân vận Huyện ủy Ba Vì đã phối hợp tổ chức 20 đợt phát động quần chúng, 150 buổi tuyên truyền cho 30.544 lượt người dân, tổ chức 15 cuộc tiếp xúc cử tri, mở hơn 15 lớp bồi dưỡng chính trị lồng ghép phát động quần chúng và phối hợp lực lượng công an tổ chức hàng trăm cuộc tiếp xúc với các đối tượng cá biệt.
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tại Ba Vì?
Khóa luận đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Tiếp tục củng cố khối đại đoàn kết dân tộc; (2) Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và quản lý của chính quyền huyện; (3) Đẩy mạnh đổi mới công tác tuyên truyền, nhân rộng phong trào "Dân vận khéo"; (4) Xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân vận có đủ phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thu Phương đã hệ thống hóa một cách có phương pháp tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động quần chúng, khẳng định nguyên lý "lấy dân làm gốc" là động lực cốt lõi của mọi thắng lợi cách mạng. Thông qua nguồn tư liệu và số liệu thực tế tại huyện Ba Vì giai đoạn 2012 - 2018, công trình đã phản ánh khách quan những thành tựu đạt được trong công tác dân vận chính quyền, tuyên truyền cơ sở, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống 4 nhóm giải pháp do tác giả đề xuất mang tính đồng bộ, thiết thực, đóng góp cơ sở khoa học giúp Đảng bộ và chính quyền địa phương tiếp tục nâng cao chất lượng công tác dân vận trong tình hình mới.