phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chƣơng và 4 tiết 8 z NỘI DUNG Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ 1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về lãng phí 1. Quan niệm về lãng phí Hồ Chí Minh không đƣa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về lãng phí, nhƣng Ngƣời tiếp cận vấn đề này một cách khá toàn diện, và qua đó, ta cũng có thể thấy đƣợc quan niệm của Ngƣời về lãng phí. Thứ nhất, Hồ Chí Minh tiếp cận vấn đề lãng phí từ hiện thực cuộc sống, những biểu hiện trong xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, lãng phí là hiện tƣợng đang tồn tại khá phổ biến trong xã hội. Sở dĩ là hiện tƣợng phổ biến vì mọi ngƣời đều có thể gây lãng phí ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp. Nếu nhƣ tham ô gắn chặt với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nƣớc và quyền lực công, thì lãng phí lại hoàn toàn có thể xảy ra ngoài Nhà nƣớc, tách khỏi bộ máy quản lý, cai trị, khỏi cơ quan quyền lực. Chính vì lẽ đó, phạm vi gây ra lãng phí rộng lớn, không phân biệt chủ thể gây ra hành vi, trình độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang ở trình độ phát triển kinh tế nhƣ thế nào; xảy ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tồn tại và phát triển thƣờng xuyên hàng ngày hàng giờ và đụng chạm đến lợi ích của hầu hết dân cƣ.
Hồ Chí Minh chỉ rõ “Không phải là không nắm tiền, nắm quyền trong tay thì không là phí, là lạm. Nhƣng có tiền trong tay thì trực tiếp lãng phí và dễ thấy” [56, tr. Có nhiều dạng lãng phí khác nhau nhƣng xét về mặt lợi ích, hành vi gây ra lãng phí có hai dạng cơ bản đó là lãng phí tổn hại đến lợi ích riêng của cá nhân và lãng phí tổn hại đến lợi ích chung của tập thể, cộng đồng. Trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Ngƣời đặc biệt quan tâm và nhấn mạnh đến dạng lãng phí gây tổn hại đến lợi ích chung, coi đó là căn bệnh nguy hiểm, gây ra hậu quả hết sức tai hại về mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của xã hội.
Trong nhiều bài nói chuyện, bài báo, bài viết Hồ Chí Minh đã đề cập cụ thể đến những hành vi lãng phí: Chẳng hạn nhƣ ngƣời nấu ăn cho tập thể, chức và 9 z quyền chỉ là nấu ăn, nhƣng có thể lãng phí. Không khéo bố trí, xếp đặt nấu nƣớng là đi đến lãng phí. Hoặc nhƣ giao thông công chính sửa một con đƣờng tính cho đúng nhu cầu mấy thƣớc, cần 100 dân công, 1 tấn gạo và trong 10 ngày. Nhƣng vì tính không đúng nên phải dùng 200 dân công, 2 tấn gạo, 20 ngày.
Đây cũng là lãng phí. Lãng phí có thể xảy ra do sự chủ quan của con ngƣời khi không biết bảo vệ của cải, vật dụng, sử dụng không cẩn thận, giữ gìn không sạch sẽ để chóng hỏng. Đây là lãng phí nhỏ, nhƣng cộng lại cả một cơ quan, cả một ngành, mọi nơi sẽ thành lãng phí rất to, dân gian thƣờng có câu “tích tiểu thành đại”. Từ những biểu hiện lãng phí, Hồ Chí Minh kết luận rằng: “Lãng phí là mất đi, đáng lẽ tiền và sức đó đem vào tăng gia sản xuất nay đem vào việc vô ích là lãng phí” [56, tr.
Thứ hai, lãng phí được Hồ Chí Minh tiếp cận trong quan hệ với mặt đối lập của nó là tiết kiệm. Lãng phí có nghĩa là trái với tiết kiệm. Thời của Hồ Chí Minh sống và hoạt động, đất nƣớc Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu, chiến tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và thống nhất Tổ quốc. Đó là những năm tháng gạo châu củi quế, mọi ngƣời phải thắt lƣng buộc bụng dồn sức tất cả vì sự nghiệp chống giặc ngoại xâm.
Vì lẽ đó, tiết kiệm là một chủ trƣơng và biện pháp hữu hiệu trong mọi hành xử của con ngƣời và tổ chức. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nƣớc, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trƣơng hình thức, không liên hoan chè chén bù khú. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, nhƣ hai chân của con ngƣời. CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”.
Cụ Khổng Tử nói: “Ngƣời sản xuất nhiều, ngƣời tiêu xài ít. Làm ra mau, dùng đi chậm thì của cải luôn luôn đầy đủ” [54, tr.112] - Hồ Chí Minh đã dẫn lại lời của cổ nhân để nhắc nhở cán bộ. Tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh luôn thống nhất với hành động của Ngƣời. Trong suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh đã cần cù lao động không bỏ phí một phút, một giây.
Ngƣời sắp xếp một cách khoa học mọi công việc của mình để tận dụng thì giờ cho 10 z dân, cho nƣớc. Ngƣời tiết kiệm trong ăn, ở, mặc, chi tiêu hằng ngày. Ngƣời vẫn thƣờng xuyên có sổ tiết kiệm từ dành dụm tiền lƣơng, tiền nhuận bút để mua quà tặng mọi ngƣời, nhất là quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng, các cụ già, những ngƣời đau yếu, bệnh tật. Hồ Chí Minh thƣờng viết trên những tờ giấy viết hoặc in một mặt, còn một mặt trắng.
Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12-1944 đƣợc Hồ Chí Minh viết trên vỏ bao thuốc lá. Đó là một chỉ thị cực kì quan trọng, và đúng nhƣ dự đoán của Ngƣời trong những lời viết ở vỏ bao thuốc lá đó: Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhƣng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm cho giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nƣớc Việt Nam. Những trang viết Tài liệu Tuyệt đối bí mật (sau này gọi là bản Di chúc) bắt đầu từ năm 1965 của Hồ Chí Minh nhiều tờ đƣợc viết trên mặt giấy của bản tin Thông tấn xã Việt Nam.
Hồ Chí Minh ăn cơm không để rơi một hạt, thức ăn vừa đủ là do ý thức tiết kiệm và sự tôn trọng lao động của nhân dân. Ngƣời kêu gọi mọi ngƣời tiết kiệm từng đồ vật, từng mảnh giấy ở công sở và Ngƣời luôn gƣơng mẫu thực hành. Ngƣời thƣờng chơi chữ rằng, đừng biến tiết kiệm thành tiết canh. Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, còn là tiết kiệm cả thời gian, là tăng năng suất lao động chứ không phải bớt xén thời gian làm việc Hồ Chí Minh đã thực hiện tinh thần tiết kiệm một cách nghiêm khắc nhất nhƣng đây không phải là chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, mà là nguyên tắc khoa học và chuẩn mực giá trị đạo đức, xuất phát từ cái tâm của một con ngƣời “ăn không ngon, ngủ không yên khi đồng bào còn chịu khổ”.
Tiết kiệm trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh hoàn toàn trái ngƣợc với sự hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một đồng cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc có lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng phải lo cho đƣợc. Nhƣ thế mới đúng là kiệm.
Việc đáng tiêu không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm. Nhƣ vậy, thực hành tiết kiệm tức là phòng, chống lãng phí. Đây là mối quan hệ biện chứng và xuyên suốt trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phòng, chống lãng phí. 11 z Thứ ba, Hồ Chí Minh tiếp cận lãng phí dưới góc độ đạo đức, theo đó, lãng phí là biểu hiện của cái “Ác” đối nghịch với đạo đức cách mạng, là kẻ thù ngăn trở sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam.
Sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Theo Ngƣời, nƣớc đƣợc độc lập mà dân không đƣợc hƣởng tự do, hạnh phúc thì độc lập ấy chẳng có nghĩa lý gì. Suy đến cùng, mục đích cách mạng của Hồ Chí Minh xuất phát từ con ngƣời và mục tiêu cao nhất cũng hƣớng đến con ngƣời. Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời của một con ngƣời hành động mà mọi hành động đều xuất phát từ nhân dân tức là toàn dân, là dân tộc.
Ngƣời hƣớng tới nhân dân, hòa trong nhân dân, hóa vào nhân dân, lấy sức mạnh từ lực lƣợng đoàn kết của nhân dân, mƣu sự bền vững từ khối đồng tâm nhất trí, đoàn kết, đồng thuận của muôn dân. Hồ Chí Minh xoay quanh chữ dân trong phát triển, trong sự hoàn thiện, hoàn hảo của con ngƣời và cuộc sống. Chính vì lẽ ấy, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh xây dựng đặt lợi ích của nhân dân lên tối thƣợng. “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trƣớc hết là nhân dân lao động” [64, tr.
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân” là một đặc trƣng quan trọng, thậm chí đƣợc Hồ Chí Minh coi là quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa: “Quy luật cơ bản của kinh tế xã hội chủ nghĩa là thoả mãn những nhu cầu vật chất và văn hóa ngày càng cao của nhân dân lao động, trái ngƣợc hẳn với nền kinh tế của chủ nghĩa tƣ bản lũng đoạn, một nền kinh tế dựa vào sự bóc lột giai cấp công nhân ngày càng nặng nề, sự bần cùng hóa quần chúng lao động và sự cƣớp bóc các dân tộc bị nô dịch” [62, tr. Để thực hiện mục tiêu ấy “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm” là phƣơng thức chủ yếu, đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm bậc nhất. Gia tăng sản xuất, thực hành tiết kiệm thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa Cần và Kiệm. Cần, Kiệm với Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là cách thức lao động để tạo ra của cải vật chất dồi dào cho xã hội mà còn là đạo đức không thể thiếu trong xã hội mới.
Kiệm là tôn trọng sức lao động, mồ hôi và nƣớc mắt của nhân dân. Vì lẽ đó, lãng phí là trái ngƣợc với tiết kiệm, là trái với đạo đức. Muốn 12 z xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công, mọi ngƣời cần có tinh thần làm chủ tốt, phải đề cao tinh thần trách nhiệm. Lãng phí là chƣa có tinh thần trách nhiệm, không quý trọng sức lao động, thời gian, của cải của chính mình và của xã hội.