Chương 1: Tổng quan những van dé lý luận đối với Người Việt Nam định cư ở nước ngoài SDD tại Việt Nam; - Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam; - Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về sử dụng đât của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam. CHUONG 1: TONG QUAN NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN BOI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SU DUNG DAT TẠI VIỆT NAM 1. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN DOI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài Với quan điểm coi cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Trong luận văn này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn được gọi là kiều bào ở nước ngoài hay Việt kiều) là một bộ phận không thé tách rời của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chủ trương nhằm thu hút đông đảo kiều bào về nước tìm hiểu cơ hội đầu tư, làm ăn lâu dài tại Việt Nam.
Cụm từ “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” được nhiều văn bản pháp luật đề cập như Luật đầu tư, Luật quốc tịch, Luật đất đai, Luật về nhà ở. Tìm hiểu những quy định về vấn đề này cho thấy trước năm 1982, trong các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta cụm từ “Việt kiều” hoặc “Người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài” hay được sử dụng khi đề cập đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tuy nhiên, khi Quyết định số 84-HDBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được ban hành ngày 28/07/1983 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Việt kiều Trung ương thì cụm từ “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” đã ra đời thay thế cụm từ “Người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài”. Thuật ngữ này được các văn bản pháp luật được ban hành trong thời gian gần đây quan niệm như sau: Theo Khoản 6, Điều 2 - Luật Khuyến khích dau tư trong nước (sửa đổi) ngày 20/05/1998: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”; Điều 5 - Nghị định số 07/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 20/05/1998 lại quan niệm: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm người có quốc tịch Việt Nam định cư ở nước ngoài và người gốc Việt Nam có quốc tịch nước khác”; Theo Điều 3 - Nghị định số 51/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/07/1999 quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) năm 1998: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư theo Luật khuyến khích đầu tư trong nước, bao gồm: Người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Như vậy, theo các văn bản pháp luật trên đây thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm: Người có quốc tịch Việt Nam nhưng sinh sống ở nước ngoài và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài. Tuy nhiên, các văn bản pháp luật này lại chưa phân biệt rõ khái niệm “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” và khái niệm “Người Việt Nam ở nước ngoài”. Chỉ đến khi Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 ra đời thay thế Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1988 thì hai khái niệm này mới được “giải mã” rõ ràng, theo đó: - “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 4 Điều 2); - Còn “Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” (khoản 3 Điều 2); Như vậy, theo pháp luật hiện hành tiêu chí để xác định người Việt Nam định cư ở nước ngoài với người Việt Nam ở nước ngoài là họ có cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài hay không. Những người là công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài thì được xác định là người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam đi học tập, công tác, lao động mà không định cư lâu dài ở nước ngoài thì được xác định là người Việt Nam ở nước ngoài. Quan niệm của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 phù hợp với quan niệm về quốc tịch của nhiều quốc gia trên thế giới. Quan niệm này được Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 kế thừa. Hơn nữa, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn giải thích rõ thế nào là công dân Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, cụ thể: - Công dân Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài là những người Việt Nam ở nước ngoài vẫn mang quốc tịch Việt Nam.
Trong quá trình cư trú, sinh sống, làm ăn lâu dài ở nước ngoài họ có thé nhập quốc tịch của một nước khác hoặc chưa nhập quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào; - “Người gốc Việt nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dai ở nước ngoài” (khoản 4 Điều 3); Tóm lai, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, người gôc Việt Nam cư trú, sinh sông, làm ăn lâu dài ở nước ngoài. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam Nghiên cứu những van đề pháp lý về SDD của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam, trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật nói chung và quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đât nói riêng; 10 - Theo Từ điển Luật học: “Quyền công dân: là khả năng tự do lựa chọn hành vi của công dân mà Nhà nước phải bảo đảm khi công dân yêu cầu”'[29, tr. 649], còn “Nghĩa vụ: là việc Nhà nước đòi hỏi công dân phải thực hiện những hành vi cần thiết khi Nhà nước yêu cầu, nếu không thực hiện thì Nhà nước buộc phải áp dụng băng mọi biện pháp từ giáo dục, thuyết phục đến cưỡng chế ”[29, tr. 561]; - Theo Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của chủ thé quan hệ pháp luật được quan niệm: Quyền chủ thé “là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành.
Nói cách khác, quyền chủ thê là khả năng của chủ thé xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép. Nói là khả năng có nghĩa là chủ thé có thé lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiễn hành hoặc không xử sự như vậy ””[25, tr. Còn nghĩa vụ chủ thé “là cách xử sự mà Nhà nước bắt buộc chủ thé phải tiễn hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thê khác. Nghĩa vụ pháp lý tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sự cần thiết phải xử sự như vậy.
Nếu sự cần thiết dy được thé hiện trong hoạt động thực tiễn thì nghĩa vụ pháp lý đó đã được thực hiện” [25, tr. Trong lĩnh vực đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được đề cập trong nhiều tài liệu, sách báo pháp lý. Theo Giáo trình Luật đất đai: “Quyền của người sử dụng đất là khả năng mà pháp luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện những hành vi nhất định trong quá trình sử dụng đất nhằm sử dụng đất đúng mục đích, hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao; Nghĩa vụ của người sử dụng đất là cách xử sự mà pháp luật bắt buộc người sử dung đất phải tiến hành trong quá trình sử dung đất nhằm không làm ton hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nha nước và của các chủ thé sử dụng đất khác””[28, tr. 191]; 11 Theo pháp luật đất đai hiện hành, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam bao gồm các đối tượng cụ thê là người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt động văn hóa, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ôn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (Khoản 6 Điều 9 Luật đất đai năm 2003).
Họ là một trong những chủ thé sử dụng đất và được pháp luật cho hưởng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật đất đai. Các hình thức sử dụng dat của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam Ở nước ta do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai: Dat đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Nhà nước thay mặt chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện việc phân bô đất dai dựa trên quy hoạch, kế hoạch và nhu cầu sử dụng đất của mỗi tô chức, hộ gia đình, cá nhân. Nhà nước thực hiện việc phân bô vốn đất đai cho các nhu cầu sử dụng đất của xã hội thông qua phương thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất. Thông qua các phương thức này làm phát sinh quyền sử dụng đất của người sử dụng.
Mặc dù pháp luật đất đai không đưa ra một quan niệm cụ thể về hình thức sử dụng đất song tìm hiểu các quy định hiện hành Tôi cho răng hình thức sử dụng đất là cách thức chiếm hữu, sử dụng thông qua việc Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận quyền sử dụng đất của các chủ thê theo đúng mục đích sử dụng đất nhất định. Với cách thức tiếp cận như vậy thì hình thức sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam được hiểu là cách thức mà pháp luật cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài chiếm hữu, sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc công nhận việc nhận chuyên quyền sử dụng đất theo đúng mục đích sử dụng 12 đất nhất định.