Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tƣợng, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5: Đề xuất các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Dao trong phát triển kinh tế hộ e 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm về giới Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi đƣợc.
Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ. Giới liên hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên. Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian. Khái niệm giới xuất hiện ban đầu ở các nƣớc nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, khái niệm này mới xuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể [2]. * Đặc trƣng, nguồn gốc, sự khác biệt về giới - Đặc trƣng cơ bản về giới + Do dạy và học mà có + Đa dạng + Luôn biến đổi + Có thể thay đổi đƣợc - Nguồn gốc giới e 5 Trong gia đình, từ khi sinh ra đứa trẻ đã đƣợc đối xử và dạy dỗ khác nhau tùy theo nó là trai hay gái.
Đó là sự khác biệt về trang phục, hành vi, cách ứng xử mà cha mẹ, gia đình, nhà trƣờng và xã hội trông chờ ở con trai và con gái. Đồng thời họ cũng hƣớng dẫn, dạy dỗ trẻ em trai và gái theo những quan điểm riêng và cụ thể. Đứa trẻ phải học để trở thành con trai hay con gái và phải luôn điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới đã đƣợc quy định. Sau khi đã hình thành các đặc điểm nhƣ vậy, nhà trƣờng và các tập quán xã hội lại tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới (ví dụ: Nam thì học thêm các môn kỹ thuật, xây dựng; nữ thì học thêm các môn nữ công, may thêu.
Các thể chế xã hội nhƣ: Chính sách, pháp luật. cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới (ví dụ: Ƣu tiên nữ trong các nghề y tá, thƣ ký. Nam trong nghề lái xe, cảnh sát.) [2] - Sự khác biệt về giới Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới, họ sống thiên về tình cảm. Vì vậy phân công lao động giữa hai giới cũng có sự khác biệt.
Ngƣời phụ nữ có thiên chức là làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái và gia đình, Còn nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn, nhanh nhẹn hơn trong công việc. Đặc trƣng này khiến nam giới ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội.
Hơn nữa do các tác động của định kiến xã hội, hệ tƣ tƣởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thƣờng ít có cơ hội tiếp cận với kiến thức mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm. Mặt khác, phụ nữ thƣờng bị ràng buộc bởi gia đình và con cái do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã hội và cơ hội thăng tiến trong công việc. Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng cách giữa hai giới trong xã hội. Vai trò của giới Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài ngƣời đảm bảo cho việc tái sinh sản con ngƣời và tái sản xuất xã hội.
Sự phân biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong cộng đồng. Do đó họ có tầm quan trọng khác nhau và họ đảm nhận những khả năng xã hội cũng khác nhau.Vai trò của giới khác với vai trò sinh học của nữ giới và nam giới. Vai trò của giới đƣợc hình thành mang tính xã hội. Kết quả là nữ giới và nam giới không có cùng nguồn lực, không có cùng một nhu cầu và mối quan tâm giống nhau.
Do đó họ cũng khác nhau trong quyền đƣa ra quyết định. Để có thể đảm bảo phát triển công bằng và có hiệu quả của các chính sách và kế hoạch phát triển cần phải tìm hiểu sự khác nhau giữa nam và nữ. Giới trở thành một phần trong phân tích về sự khác biệt xã hội. Đây là cơ sở nghiên cứu sự cân bằng về giới và nâng cao địa vị của ngƣời phụ nữ trong xã hội.
Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, đƣợc coi là trụ cột của sức lực, khả năng bảo vệ và che chở. Họ có cuộc sống tình cảm cứng rắn hơn, mạnh mẽ hơn và năng động hơn trong công việc. Chức năng của họ là ngƣời sản xuất đồng thời là ngƣời quản lí, ít nhất là ngƣời quản lí gia đình, đặc trƣng về giới cho phép họ có khả năng dồn tâm lực, trí lực cho mọi công việc và mọi thời gian nhƣ nhau. Nữ giới đƣợc coi là phái yếu, phái đẹp.
Họ không mạnh mẽ bằng nam giới cả về tình cảm và sức khoẻ cũng nhƣ sự mạnh bạo trong công việc nhƣng họ lại là thành viên quan trọng nhất tạo nên sự êm ấm hoà thuận trong gia đình. Họ là ngƣời thiên sống về tình cảm, uỷ mị, sống sâu sắc, nhạy cảm và nhẹ dạ cả tin. Do vậy phụ nữ chiếm tỉ lệ cao trong trong số ngƣời ra khỏi biên chế vì sức khoẻ, thiếu năng lực.Tất cả gánh nặng sinh con, nuôi con, công việc gia đình thƣờng không đƣợc coi là hoạt động mang thu nhập và không đƣợc trả công e 7 nhƣng trên thực tế chúng lại chiếm nhiều thời gian và có tính lặp đi lặp lại, là nguyên nhân cơ bản loại trừ ngƣời phụ nữ ra khỏi nền sản xuất hiện đại [2]. Để thay đổi đặc trƣng về giới và quan niệm cũ tức là cần phải thay đổi nhận thức, hành vi của mọi ngƣời trong xã hội về giới và quan niệm giới tạo điều kiện cần thiết để thực hiện hành động vì sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội.
Cả nam và nữ đều đóng vai trò trong xã hội và nó cũng đƣợc thể hiện trong cuộc sống thƣờng nhật đó là: - Vai trò tái sinh sản: Thể hiện vai trò của nam và nữ trong việc tái sinh, duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động và sức sản xuất xã hội bao gồm: mang thai, sinh con, chăm sóc con cái, chăm sóc các thành viên khác trong gia đình, các công việc nội trợ, phần lớn các công việc này do phụ nữ đảm nhận. - Vai trò sản xuất: Thể hiện vai trò của nam giới, nữ giới trong quá trình hoạt động đem lại thu nhập, có thể ở dạng tiền hoặc vật chất. - Vai trò cộng đồng: Bao gồm các hoạt động do nam giới và nữ giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm duy trì, bảo vệ các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, thực hiện các nhu cầu chung của cộng đồng nhƣ xây dựng các cơ sở vật chất, hạ tầng, các hoạt động văn hoá và quản lí cộng đồng. Vai trò cộng đồng đƣợc chia làm 2 loại: + Vai trò tham gia cộng đồng: Thực hiện các công việc tổ chức ở cộng đồng, thực hiện các nhu cầu chung nhƣ vệ sinh ngõ xóm, chăm sóc sức khoẻ… Đây là các công việc thƣờng đƣợc thực hiện tự nguyện, không đƣợc trả tiền và làm vào thời gian rỗi, thông thƣờng do phụ nữ đảm nhận là chính.
+ Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Các hoạt động quản lí cộng đồng thuộc cấu trúc thể chế chính trị, những công việc này thƣờng do nam giới thực hiện và thƣờng đƣợc trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm địa vị quyền lợi [1]. Lồng ghép giới trong các chương trình, dự án Lồng ghép là tập hợp những ý tƣởng, các giá trị, các cách làm, các thể chế và các tổ chức nổi trội có mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau để quyết định “ai đƣợc cái gì” trong xã hội. Các ý tƣởng và thực tế trong việc lồng ghép phản ánh và củng cố lẫn nhau, qua đó đƣa ra luận chứng cho bất kỳ sự phân bố các nguồn lực và cơ hội nào của xã hội - Lồng ghép giới đƣợc hiểu là Lồng ghép giới là một quá trình hay chiến lƣợc hƣớng tới mục đích bình đẳng giới. Đây là một quá trình diễn ra liên tục.
Nó là một phƣơng pháp để quản trị nhằm làm cho các mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình thiết kế, thực hiện kiểm tra và đánh giá các chính sách và chƣơng trình trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. Lồng ghép giới liên quan đến việc thay đổi các chính sách và thể chế nhằm thúc đẩy bình đẳng giới một cách tích cực hơn. Đó là một quá trình chuyển đổi lâu dài nhằm xem xét lại các giá trị văn hóa - xã hội và các mục tiêu phát triển. - Đối tƣợng để thực hiện lồng ghép giới Dòng chảy chủ đạo là một tập hợp mang tính chi phối, bao gồm các ý tƣởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội.
Dòng chảy chủ dạo bao trùm các thể chế chính của xã hội (gia đình, nhà trƣờng, chính quyền, tổ chức xã hội…) quyết định ai đƣợc coi trọng và cách thức phân bổ nguồn lực, quyết định ai đƣợc làm gì và ai nhận đƣợc gì trong xã hội, và cuối cùng quyết định chất lƣợng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội. - Tại sao lồng ghép giới lại quan trọng? Lồng ghép giới là một khía cạnh quan trọng trong quản trị hữu hiệu.