Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƢU ĐÃI NGƢỜI BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC 1. Chính sách cho ngƣời bị nhiễm chất độc hóa học 1. Ngƣời nhiễm chất độc hóa học 1. Khái niệm Trong ngữ cảnh sinh học, các chất độc là các chất có thể gây hƣ hại, bệnh, hoặc tử vong cho các cơ thể, thƣờng bằng các phản ứng hóa học hoặc các hoạt tính khác trên phạm vi phân tử, khi một số lƣợng vừa đủ đƣợc cơ thể sinh vật hấp thụ vào.
Trong chiến tranh ở Việt Nam, quân đội Mỹ đã tiến hành rải xuống lãnh thổ miền Nam những chất hóa học “diệt cỏ” với nhiều thành phần hóa học khác nhau. Trong đó, nguy hiểm nhất là chất hóa học (thƣờng gọi là chất độc da cam), là chất độc nhất trong các chất độc mà con ngƣời biết đến. Với liều lƣợng cỡ 1 picogram (ppt – phần ngàn tỉ gram) có thể gây bệnh ung thƣ, tai biến sinh sản ở ngƣời; vài chục nanogram (ng – phần tỉ gram) có thể lập tức gây chết ngƣời. Nhiều nhà khoa học cho rằng, chỉ cần 85 gram là có thể giết chết toàn bộ số dân 1 thành phố khoảng 8 triệu ngƣời.
[3] Theo quy định hiện nay tại điều 38 nghị định 31/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09 tháng 04 năm 2013 về việc quy định chi tiết, hƣớng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ƣu đãi ngƣời có công với cách mạng thì ngƣời đƣợc xác định là ngƣời hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học phải thuộc một trong các đối tƣợng sau: 1. Cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam. Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lƣợng Công an nhân dân. Cán bộ, công nhân viên trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Thanh niên xung phong tập trung. Công an xã; dân quân; du kích; tự vệ; dân công; cán bộ thôn, ấp, xã, phƣờng. Các đối tƣợng nói trên phải thỏa mãn các điều kiện tại điều 39 nghị định 31/3013/NĐ-CP nhƣ sau: - Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu từ ngày 01 tháng 8 năm 1961 đến 30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học ở chiến trƣờng B, C, K (kể cả 10 xã: Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Tân, Vĩnh Thành, Vĩnh Ô, Vĩnh Khê, Vĩnh Hà, Vĩnh Lâm, Vĩnh Sơn và Vĩnh Thủy thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị). - Do nhiễm chất độc hóa học dẫn đến một trong các trƣờng hợp bệnh tật sau: Mắc bệnh theo danh mục bệnh tật do Bộ Y tế quy định làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên; Vô sinh; Sinh con dị dạng, dị tật theo danh mục dị dạng, dị tật do Bộ Y tế quy định.
Các đối tƣợng trên đƣợc gọi chung là ngƣời tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Bên cạnh đó, đối tƣợng thứ hai cũng đƣợc hƣởng chế độ chính sách cho ngƣời nhiễm chất độc hóa học còn có con đẻ còn sống của ngƣời tham gia kháng chiến (bao gồm cả con đẻ của bệnh binh, con đẻ của công nhân viên chức nghỉ mất sức lao động) bị dị dạng, dị tật nặng do nhiễm chất độc hoá học không còn khả năng lao động. Nhƣ vậy, tiêu chí xác định nạn nhân chất độc hóa học là một vấn đề phức tạp. Thƣờng sẽ là hai tiêu chí cơ bản đƣợc thống nhất chấp nhận là: Tiêu chí tiếp xúc trực tiếp với chất độc da cam trong chiến tranh (tiêu chí bắt buộc phải có).
Tiêu chí đối với sức khỏe: bị mắc ít nhất một trong số 17 bệnh, tật có liên quan đến phơi nhiễm chất độc màu da cam tại Điều 7 Thông tƣ liên tịch 9 số 20/2016/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 30/6/2016 của Liên Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội quy định danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật có liên quan đến phơi nhiễm với chất độc hóa học. Tóm lại, theo quy định hiện hành, đối tƣợng đƣợc xác định là ngƣời bị nhiễm chất độc hóa học là: “người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm với chất độc hóa học có biểu hiện bệnh lý hoặc con của người tham gia kháng chiến có biểu hiện bệnh lý liên quan đến chất độc hóa học”. Đặc điểm của ngƣời bị nhiễm chất độc hóa học Ngƣời nhiễm chất độc hóa học thƣờng mang các đặc điểm căn bản: Về sức khỏe sinh lý: Ngƣời bị nhiễm chất độc hóa học còn sống thƣờng xuất hiện các bệnh lý chung ở bộ máy tiêu hoá nhƣ: giảm chức năng gan, xơ gan; viêm loét dạ dày, tá tràng, đại tràng; suy nhƣợc thần kinh; cao huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn tuần hoàn não; bị các bệnh ngoài da (xạm da, viêm da)… (theo danh mục bệnh, tật của Bộ y tế quy định) Đặc biệt là ngƣời nhiễm chất độc hóa học thƣờng gặp các tai biến sinh sản: sẩy thai tự nhiên, đẻ non; thai chết lƣu; chửa trứng, ung thƣ màng nuôi; dị tật bẩm sinh (vô não, não teo nhỏ, não úng thuỷ, dị tật cột sống, sứt môi, hở hàm ếch, khoèo chân tay); quái thai (thai đôi dính nhau); vô sinh. Đáng lƣu ý là một cặp vợ chồng có thể xuất hiện liên tiếp nhiều con (thế hệ thứ 2) hoặc cháu (thế hệ thứ 3) bị dị tật.
Cũng có trƣờng hợp bố hoặc mẹ bị ảnh hƣởng trực tiếp chất da cam nhƣng không xuất hiện dị tật ở thế hệ thứ 2 (con) mà xuất hiện ở thế hệ thứ 3 (cháu), đó là những trƣờng hợp thế hệ thứ 2 mang gen lặn. Về mặt di truyền, chúng ta chƣa thể khẳng định tác hại của chất da cam, chỉ dừng lại ở thế hệ thứ 3 hoặc thứ 4. Về vị trí xã hội: Vì điều kiện sức khoẻ, nạn nhân chất độc da cam không thể làm việc đƣợc, nên các khoản trợ cấp của chính phủ là nguồn thu chính để sống. Hầu hết các trƣờng hợp, những thành viên khác trong gia đình cũng dựa vào nguồn thu này vì chính họ cũng không thể làm việc.
Ngoài ra, những ngƣời còn lại trong gia đình phải chăm sóc những nạn nhân đau yếu nên phải dành nhiều thời gian ở nhà. 10 Về nhu cầu xã hội, nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nhu cầu của nạn nhân bị nhiễm chất độc hóa học thƣờng ƣu tiên 5 nhu cầu để cải thiện chất lƣợng cuộc sống, bao gồm: 1. Cải thiện điều kiện sống; 2. Cải thiện sinh kế; Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe; Nâng mức trợ cấp và Giáo dục cho con trẻ.
Đặc biệt, bởi hầu hết nạn nhân chất độc da cam đều quá già hoặc quá yếu, không thể làm việc đƣợc nên nhiều ngƣời đề xuất nhu cầu cải thiện cơ hội việc làm cho con em mình hoặc các thành viên khác trong gia đình. Ngƣời đƣợc phỏng vấn thƣờng yêu cầu đào tạo nghề cho thế hệ trẻ. Chỉ số ít trong số họ có thể làm việc và muốn đƣợc nâng cao kỹ thuật canh tác, hoạt động kinh doanh nhỏ. Nạn nhân chất độc da cam và gia đình họ thấy rất khó để bán đƣợc sản phẩm.
Hỗ trợ từ các hoạt động kinh doanh xã hội có thể giúp họ vƣợt qua nhiều thách thức. Chính sách đối với ngƣời nhiễm chất độc hóa học 1. Khái quát chung về chính sách Khái niệm Hiện nay ở nƣớc ta, lĩnh vực chính sách công vẫn là một lĩnh vực khoa học vô cùng non trẻ. Cùng với đó, thuật ngữ chính sách công vẫn chƣa đƣợc thống nhất một cách rõ ràng.
Do đó, khái niệm này đƣợc viện dẫn bằng nhiều cách hiểu khác nhau. Ví dụ: Thomas Dye (1972) đƣa ra định nghĩa: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nƣớc làm hoặc không làm” [58]. Định nghĩa này khá đơn giản và chƣa đƣa ra đƣợc những đặc điểm cần thiết nhằm phân biệt hành động chính sách của nhà nƣớc trong vô số các hoạt động của nhà nƣớc. Theo William Jenkins [59] thì “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau đƣợc ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phƣơng tiện để đạt đƣợc mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền”.Jenkins cho rằng hoạch định chính sách công là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, chính sách công là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau”.
11 Nhƣ vậy, trong nội dung luận văn này, tác giả thống nhất quan điểm chính sách công là: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nƣớc ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hƣớng nhất định.” [14] Theo đó, chính sách đối với người nhiễm chất độc hóa học là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do nhà nước ban hành nhằm hướng đến điều chỉnh các vấn đề phát sinh cho người bị nhiễm chất độc hóa học nhằm đảm bảo tính công bằng và phát triển của xã hội. Chu trình chính sách công Chu trình chính sách công là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp liên quan với nhau từ khi vấn đề công đƣợc vào chƣơng trình nghị sự của nhà nƣớc đến khi đánh giá đƣợc kết quả của chính sách công [8]. Có nhiều cách phân chia chu trình chính sách công thành các giai đoạn khác nhau nhƣng theo TS. Lê Nhƣ Thanh và TS.
Lê Văn Hòa trong “Hoạch định và thực thi chính sách công” (2016) thì chu trình chính sách đƣợc mô tả nhƣ sau: [8] Sơ đồ 1. Mô tả về chu trình chính sách công HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CÔNG ĐÁNH GIÁ THỰC THI CHÍNH SÁCH CHÍNH SÁCH CÔNG CÔNG Hoạch định chính sách công là quá trình nghiên cứu, xây dựng và ban hành một chính sách để giải quyết một vấn đề công. Quy trình hoạch định 12 chính sách công gồm thiết lập chƣơng trình nghị sự hay chƣơng trình xây dựng chính sách, soạn thảo chính sách, quyết định chính sách. Thực thi chính sách công là quá trình đƣa chính sách vào thực tế nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách.
Đây là giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã lựa chọn và theo dõi, giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Có thể khẳng định giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của một chính sách công.