Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Chương 2: Thực trạng về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân ở nƣớc ta hiện nay. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM THAM GIA XÂY DỰNG VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN 1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và công tác xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân 1.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị Ngày 18 tháng 11 năm 1930, Ban Thƣờng vụ Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức tổ chức đầu tiên của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp lực lƣợng nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam suốt chặng đƣờng gần 80 năm không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận. Trải qua các thời kỳ cách mạng, với những hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai đoạn hiện nay.
Về vị trí, Cƣơng lĩnh Đảng năm 1991 ghi “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận”. Năm 1999, Nhà nƣớc thể chế hoá Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và qua tổng kết 10 năm đổi mới đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Khái niệm hệ thống chính trị đƣợc Đảng sử dụng từ hội nghị TW6 (khoá VI), hệ thống đó bao gồm Đảng, Nhà nƣớc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội.
Nhƣ vậy, từ đó đến nay, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đƣợc xác định rõ trong xã hội và hệ thống chính trị. Luận văn sẽ chủ yếu, tập trung đi sâu vào TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 mối quan hệ với Nhà nƣớc để thấy đƣợc vai trò tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhà nƣớc đều là bộ phận của hệ thống chính trị. Tuy chức năng, nhiệm vụ và phƣơng thức hoạt động của Mặt trận và Nhà nƣớc có khác nhau nhƣng đều là công cụ để nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Nhà nƣớc là quan hệ phối hợp để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Sự phối hợp này là một tất yếu và xuất phát từ nhu cầu tự thân của Mặt trận lẫn Nhà nƣớc. Bởi lẽ, củng cố và tăng cƣờng đoàn kết phải trên cơ sở chính sách pháp luật. Nhà nƣớc có vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng và tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác quản lý, tạo điều kiện để nhân dân đƣợc làm những việc mà pháp luật không cấm.
Nhà nƣớc ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Mặt trận phải chăm lo xây dựng, bảo vệ và giám sát Nhà nƣớc. Phối hợp với Nhà nƣớc thì Mặt trận mới có khả năng và điều kiện thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình. Nhà nƣớc điều hành, quản lý xã hội bằng pháp luật, nhân dân là ngƣời trực tiếp thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc cần tôn trọng và tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nƣớc. Trong quá trình ban hành các văn bản về quản lý và điều hành, cơ quan Nhà nƣớc các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể. Nhà nƣớc căn cứ quy chế tổ chức và cơ chế hoạt động để giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nƣớc và Mặt trận. Nhà nƣớc cần thể chế hoá quyền hạn và trách nhiệm của Mặt trận trong việc tham gia quản lý kinh tế - xã hội.
Nhà nƣớc cùng với Mặt trận chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào để thực hiện thắng lợi các chƣơng trình kinh tế - xã hội. Mặt trận giới thiệu những ngƣời có đủ tiêu chuẩn và điều kiện để nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 tham gia xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nƣớc. Cải cách bộ máy Nhà nƣớc trong giai đoạn hiện nay còn bao hàm một nội dung quan trọng là tăng cƣờng mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nƣớc với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Để Mặt trận làm tròn trách nhiệm là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cùng với nhà nƣớc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, do đó đòi hỏi sự phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nƣớc ngày một chặt chẽ hơn.
Trong bài phát biểu với Mặt trận, đồng chí Trƣờng Chinh đã từng nói:. Chúng ta không nên tƣởng rằng có bộ máy nhà nƣớc trong tay, có pháp luật thì chỉ cần ra lệnh cho quần chúng tuân theo là mọi việc xong suôi cả. Tƣởng nhƣ thế là quan liêu, mệnh lệnh. Bất cứ chủ trƣơng, chính sách gì, kể cả Hiến pháp và pháp luật, quy chế và điều lệ, nếu không đem tuyên truyền phổ biến trong quần chúng nhân dân, kiên nhẫn giải thích, thuyết phục và giáo dục cho quần chúng hiểu và tự nguyện thi hành thì những cái đó cũng chỉ nằm trên giấy tờ.
Chính quyền cách mạng của nhân dân có thể dùng hai biện pháp: thuyết phục và bắt buộc, kết hợp thuyết phục với bắt buộc, dựa trên cơ sở thuyết phục mà thực hiện bắt buộc, nói chung thuyết phục vẫn là chính. Làm thế nào để thuyết phục quần chúng thi hành những chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc. Đảng đã nắm chính quyền thì những chủ trƣơng, chính sách quan hệ đến quyền lợi thiết thân của toàn dân cần đƣợc biến thành quy định của Nhà nƣớc để toàn dân thi hành. Đảng lãnh đạo chính quyền, chứ không bao biện thay chính quyền.
Song để tránh quan liêu, mệnh lệnh, chính quyền cần dựa vào Mặt trận và các thành viên của Mặt trận; sử dụng những tổ chức đó vào việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng để quần chúng thấu suốt và hăng hái thi hành các chủ trƣơng, chính sách của Đảng, Nhà nƣớc. Trở lại mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nƣớc, Điều 9 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã thể chế hoá quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhƣ sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cƣờng sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nƣớc chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nƣớc, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả. 14] Cũng trong Hiến pháp, tại điều 87 quy định về quyền trình dự án Luật ra trƣớc Quốc hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. Tại Điều 111 quy định: “Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự các phiên họp của Chính phủ khi bàn các vấn đề liên quan”. Tại Điều 112 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ có nhiệm vụ: “Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả” và tại Điều 125 quy định: Chủ tịch Uỷ ban Trung ƣơng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và ngƣời đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phƣơng đƣợc mời tham dự hội nghị Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thông báo tình hình mọi mặt của địa phƣơng cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 dựng chính quyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng; phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân động viên nhân dân cùng nhà nƣớc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh ở địa phƣơng.