Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong quản lý nhà nước. Thực trạng vai trò Hội LHPN tỉnh Cao Bằng trong quản lý nhà nước. Giải pháp nâng cao vai trò của Hội LHPN trong quản lý nhà nước – từ thực tiễn tỉnh Cao Bằng. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1.
Khái niệm về quản lý nhà nƣớc và vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong quản lý nhà nƣớc 1. Khái niệm quản lý nhà nước Ðể nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý”. Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng những cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.
Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Theo quan niệm của C.Mác: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”. Theo Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất.
Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý. Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi 8 hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý. Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý.
Theo giáo trình đào tạo của Học viện hành chính "Quản lý là một quá trình hiện thực hóa, những đường lối chủ trương chiến lược thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý phù hợp với yêu cầu và điều kiện của đơn vị, cơ quan mình". Quản lý là một tất yếu khách quan do lịch sử quy định, là sự tác động một cách có tổ chức và sự định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Khái niệm Quản lý nhà nước cũng được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc độ khác nhau.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, “Quản lý nhà nước hiểu theo nghĩa đầy đủ, là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy nhà nước, trên cơ sở quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của nhà nước” [37, tr. Cũng về khái niệm quản lý nhà nước, theo PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, “quản lý nhà nước theo nghĩa rộng, là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước” [42, tr. 9 Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa (CNXH) và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức nãng đặc biệt quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Như vậy, có thể thấy nội dung của quản lý nhà nước gồm: Ban hành các loại văn bản pháp luật (lập pháp) nhằm tạo khuôn khổ pháp luật cho xã hội vận động và phát triển; đưa pháp luật vào đời sống (hành pháp), điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nảy sinh; xử lý các vi phạm pháp luật (tư pháp) nhằm đảm bảo cho hệ thống pháp luật được nghiêm minh.
Với khái niệm này, có thể thấy, chủ thể của quản lý nhà nước là các cơ quan hành chính nhà nước trong bộ máy nhà nước, các cơ quan này được thành lập để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đối tượng của quản lý nhà nước là toàn thể nhân dân. Hoạt động quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ 10 quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội theo định hướng mà nhà nước đề ra.
Nội dung cơ bản của quản lý nhà nước là việc thực thi các loại quyền lực Nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội, làm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng đề ra. Việc tổ chức thực thi quyền lực nhà nước gồm: Thực thi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tổ chức và hoạt động của Nhà nước Việt Nam được thực hiện trên nguyên tắc quyền lực Nhà nước thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Hoạt động quản lý nhà nước là của chủ thể các cơ quan quản lý nhà nước.
Tuy nhiên, Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước là tổ chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nhân dân có thể thực hiện quyền làm chủ đất nước của mình bằng nhiều hình thức, trong đó có việc làm chủ thông qua tổ chức đại diện của mình. Trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động quản lý này, Nhà nước có mối quan hệ rất mật thiết với các thành tố khác trong hệ thống chính trị là Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, trong đó có Hội LHPN Việt Nam. Khái niệm vai trò Hội Liên hiệp Phụ nữ trong quản lý nhà nước Để làm rõ khái niệm vai trò Hội LHPN trong quản lý nhà nước cần làm rõ các thuật ngữ có liên quan Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định [3]. Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu.
Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng. Còn vai trò xã hội không có tính chất tưởng tượng, bắt chước cứng nhắc và nhất thời. Những hành vi thực tế của một người nhờ học hỏi được những kinh nghiệm, lối sống, tác phong từ trước đó trong cuộc sống. Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó.
Ðồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân, tổ chức có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Vị thế và vai trò của cá nhân, tổ chức trong xã hội bắt nguồn từ vị trí kinh tế, chính trị, xã hội của họ, từ địa vị pháp lý mà quy định nên. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội…và tuỳ theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách.
Vị thế và vai trò luôn gắn bó mật thiết với nhau. Không thể nói tới vị thế mà không nói tới vai trò và ngược lại. Vai trò và vị thế là hai mặt của một vấn đề. Vị thế của cá nhân, tổ chức được xác định bằng việc trả lời cho câu hỏi: là ai? làm gì? Vai trò phụ thuộc vào vị thế (vị thế nào vai trò ấy).
Một vị thế có thể có nhiều vai trò.