Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG 1. Người có công và chính sách người có công 1. Người có công Theo nghĩa rộng, người có công là người bình thường, làm việc đại nghĩa, có công lao lớn đối với đất nước, không bao giờ kể công và không đòi hỏi cộng đồng phải báo nghĩa. Cụ thể hơn, người có công là cống hiến của họ vì lợi ích của đất nước, được nhân dân tôn vinh và được Nhà nước thông qua cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận theo qui định của pháp luật, đồng thời đảm bảo cho họ các chế độ ưu đãi về kinh tế, về chính trị, xã hội.
Ở đây, có thể thấy rõ những tiêu chí cơ bản xác định nội hàm khái niệm người có công. Đó phải là những người có thành tích đóng góp hoặc cống hiến lớn lao, xuất sắc vì lợi ích chung của đất nước. Những cống hiến đó có thể được thực hiện trong các cuộc kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước [1, tr. Theo nghĩa hẹp, khái niệm người có công được xác định là những người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng, họ đã hy sinh cả cuộc đời hoặc một phần thân thể hoặc có thành tích đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam [1, tr.
Căn cứ pháp lý để thực thi chính sách ưu đãi hiện nay được quy định tại Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09 tháng 12 năm 2020 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của pháp lệnh ưu đãi người có công. Theo pháp lệnh, thì có 12 nhóm được công nhận là Người có công đó là: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 ; Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945; Liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang 10 nhân dân; Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến; Thương binh, bao gồm cả thương binh loại B được công nhận trước ngày 31 tháng 12 năm 1993, người hưởng chính sách như thương binh; Bệnh binh; Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học; Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày; Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế; Người có công giúp đỡ cách mạng [24, tr. Chính sách công 1. Khái niệm: Nhà nước được hình thành để quản lý xã hội và sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý.
Do đó, để thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình thì nhà nước cần xây dựng những chính sách hữu hiệu. Và chính sách công được coi là một trong số các công cụ đó. Mang đến các chính sách chung trong hoạt động quản lý, xây dựng đất nước. Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm về chính sách công.
Qua đó cũng chưa thấy được tất cả các ý nghĩa, bản chất sử dụng chính sách công. Tuy nhiên từ thực tế có thể hiểu: + Chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng. Được thể hiện trong từng nhu cầu và định hướng cụ thể, dựa trên các điều kiện và sự kiện thực tế, các chính sách công ra đời và bắt buộc thực hiện chung. Phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tồn tại.
+ Đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị. Phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân. Trước tiên mang đến sức mạnh của giai cấp lãnh đạo, sau là đảm bảo các điều kiện và nhu cầu của người dân trong mọi lĩnh vực đời sống. Cũng như hướng đến sự ổn định trong xã hội, thúc đẩy cơ chế lãnh đạo của nhà nước.
11 Như vậy, chính sách công được hiểu là những quy định về ứng xử của Nhà nước với những hiện tượng nảy sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới những hình thức khác nhau 1 cách ổn định nhằm đạt được mục tiêu định hướng. Đặc điểm của chính sách công: - Chính sách công chịu sự chi phối mạnh mẽ của chính trị: Khi định hướng chính trị của đảng cầm quyền thay đổi thì hệ thống chính sách thay đổi; tiêu chuẩn đánh giá chính sách công phụ thuộc tiêu chuẩn chính trị, không phụ thuộc vào lợi nhuận, rất ít khi định lượng được. - Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước: Các cơ quan Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công, bao gồm: Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, Chính quyền địa phương các cấp,… Các chính sách đều do Nhà nước đề ra và tổ chức thực thi, các chính sách công của nhà nước giúp phát huy được sức mạnh nội tại của người dân và là động lực để phát triển kinh tế xã hội, hiện đại hóa đất nước. - Chính sách công có nhiều quyết định liên quan lẫn nhau: Chính sách công là một chuỗi các quyết định nhằm mục đích cuối cùng là giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy nhà nước ban hành trong một thời gian dài.
Một chính sách công được ban hành có thể chế hóa thành văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lí cho các giai đoạn thực thi sau này. - Các quyết định trong chính sách công là quyết định hành động: Đầu tiên, chính sách công thể hiện được dự định của nhà hoạch định chính sách, làm thay đổi hoặc duy trì một thực trạng nào đó. Tiếp đó, chính sách công còn bao gồm các hành vi để thực hiện các dự định nói trên và đưa ra các kết quả thực tế nhất. - Chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong xã hội: Không 12 như các công cụ quản lý khác, thường là các kế hoạch, dự định, chiến lược tổng quát về chương trình hành động bao gồm một hoặc nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội, chính sách công sẽ tập trung giải quyết một hoặc một số vấn đề đang đặt ra.
- Chính sách công bao gồm những việc Nhà nước sẽ làm trong tương lai và không làm. Có nghĩa là, không hẳn mọi mục tiêu đặt ra của chính sách công đều dẫn tới hành động, mà có thể yêu cầu của chủ thể không được thực hiện. - Chính sách công tác động đến các đối tượng của chính sách: Đối tượng chính sách là những người chịu tác động hay hoạt động điều tiết của chính sách. Phạm vi điều tiết của chính sách có thể rộng hoặc hẹp tùy vào nội dung của từng chính sách.
- Chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng hoặc của quốc gia: Thực tế, có nhiều tình trạng một chính sách công không công bằng lợi ích cho từng nhóm dân cư, nhóm này thì được lợi những nhóm kia thì không có hoặc thậm chí bị thiệt thòi. - Chính sách công luôn thay đổi theo thời gian vì những quyết định sau có thể có điều chỉnh so với quyết định trước hoặc có những thay đổi trong định hướng trong chính sách ban đầu, hoặc do kinh nghiệm về thực thi chính sách công được phản hồi trong quá trình ra quyết định,… - Chính sách công được xem là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ và công chức nhà nước. Ý nghĩa, vai trò chính sách công - Ý Nghĩa chính sách công: Chính sách công có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý, khoa học và thực tiễn ở chỗ nó là chính sách của nhà nước, phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của nhà nước để phục vụ cho mục đích và lợi ích của nhà nước. 13 Tính chính trị của Chính sách công biểu hiện rõ nét qua bản chất của nó là công cụ quản trị, quản lý của nhà nước, phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước tổn tại.
Nếu chính trị của nhà nước thay đổi, tất yếu dẫn đến sự thay đổi về chính sách. Điều này khẳng định Chính sách công mang tính chính trị hay ý nghĩa chính trị đậm nét. Tính pháp lý hay ý nghĩa pháp lý của Chính sách công ở chỗ, chính sách của nhà nước được ban hành trên cơ sở pháp luật, nhưng pháp luật là của nhà nước nên Chính sách công đương nhiên có ý nghĩa hay tính pháp lý. Tính chất xã hội hay ý nghĩa xã hội của Chính sách công thể hiện ở chức năng xã hội của Chính sách công.
Chính sách công là chính sách của nhà nước ban hành để thực hiện chức năng xã hội của nhà nước, ngoài phục vụ lợi ích của nhà nước còn để phục vụ xã hội, phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân, tạo điều kiện và định hướng cho xã hội phát triển. Tính khoa học của Chính sách công thể hiện ở tính khách quan, công bằng tiến bộ và sát với thực tiễn. Nếu Chính sách công mang tính chủ quan duy ý chí của nhà nước sẽ trở thành rào cản kìm hãm sự phát triển của xã hội. Điều này cũng có nghĩa là việc ban lành Chính sách công của nhà nước bất thành, sẽ ảnh hưởng đến uy tín và vai trò của nhà nước.
Nếu Chính sách công nhà nước ban hành đảm bảo các yếu tố khách quan, công bằng và tiến bộ, phù hợp với lòng dân và xã hội, phù hợp với ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì sẽ được người dân và xã hội ủng hộ, chính sách đó sẽ được thực hiện trong cuộc sống một cách nhanh chóng, hiệu quả. - Vai trò cơ bản của Chính sách công thể hiện ở chỗ là công cụ hữu hiệu chủ yếu để nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân. Dưới góc độ quản lý, quản trị quốc gia, nhà nước sử dụng Chính sách công như một công cụ quan trọng tác động vào các lĩnh vực đời sống xã hội để đạt được 14 mục tiêu định hướng của nhà nước.