Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2. Hoạt động của dòng họ thực hiện văn hóa, xã hội và môi trường tại xã Thiên Lộc hiện nay Chương 3. Các yếu tố ảnh hưởng và hệ giải pháp nâng cao vai trò của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới tại xã Thiên Lộc hiện nay.
Kết cấu luận văn được triển khai dựa trên mục tiêu và nội dung nghiên cứu theo logic từ tìm hiểu thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của DH trong xây dựng NTM. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài “Vai trò” Từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1960, khái niệm “vai trò” đã giữ một vị trí quan trọng trong XH học. Trong đó, thường có nhiều khái niệm liên quan như “vai trò XH”, “vai trò giới”.
Để hiểu về khái niệm “vai trò” ở đề tài này, trước hết cần hiểu về khái niệm “vai trò XH”. Người đề xuất thực sự khái niệm vai trò là nhà nhân học VH Ralph Linton (1893 – 1953), ông đã đưa ra định nghĩa vai trò trong tác phẩm “Study of Man” (1936). “Thuật ngữ vai trò sẽ được dùng để chỉ ra toàn bộ tổng số về hình mẫu VH được tạo nên với một địa vị cụ thể. Do vậy, nó bao gồm các quan điểm, các giá trị hành vi được XH gán cho mỗi cá nhân và tất cả các cá nhân đang chiếm giữ nó” [9, tr.
Sau này trong bản thảo được biên soạn lại (1945) khái niệm này được thể hiện như sau: “Từ nay trở đi chúng ta gọi vị trí do một cá nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một hệ thống cụ thể là trạng thái của cá nhân đó…Vế thứ hai, vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẫu VH gắn liền với một trạng thái cụ thể. Như vậy vai trò XH sẽ bao gồm “những quan điểm, ước lệ về giá trị và phương thức hành động được XH quy định cho chủ nhân của trạng thái này” [9, tr.Levinson cho rằng, trong XH học hiện đại, tối thiểu chúng ta cũng có ba định nghĩa về vai trò. Định nghĩa thứ nhất, coi vai trò như một hệ thống các yêu cầu (những quy tắc, những đòi hỏi…) gắn liền với một vị trí XH nhất định. Đó là hệ thống tác động đến cá nhân từ bên ngoài, gồm những nhân tố tạo thuận lợi và kìm hãm, điều chỉnh hoạt động của cá nhân như là nhân cách.
Định nghĩa thứ hai, xác định vai trò như là sự định hướng hoặc quan niệm về cá nhân ở chỗ cá nhân đó phải đóng góp gì cho XH. Định nghĩa thứ ba, vai trò như là một hệ thống hành động của cá nhân được xem xét trong sự liên hệ với hệ thống giá trị và quy tắc nào đó từ bên ngoài. Ở đây, vai trò dành để chỉ các phương thức hành động của cá nhân đang giữ một vị trí XH nhất định phù hợp hoặc không phù hợp với hệ thống quy tắc đó [9, tr. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo Dalrendort: vai trò XH là “một tập hợp những kỳ vọng ở trong một XH gắn với hành vi của những người mang các địa vị… ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi [28, tr.Robentsons cho rằng vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định [28, tr.
Một cách định nghĩa khác coi vai trò là một tập hợp những mong đợi, các quyền lợi và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể. Hay vai trò XH là chức năng XH, là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi vị thế của các cá nhân trong hệ thống quan hệ XH hoặc quan hệ giữa cá nhân với cá nhân [28, tr.H Fischer cho rằng sự phối hợp và tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm vụ XH gọi là vai trò. Hay nói cách khác vai trò là những hành động, hành vi, ứng xử những khuôn mẫu tác phong mà XH chờ đợi hay đòi hỏi ở một người hay một nhóm XH nào đó phải thực hiện trên cơ sở vị thế của họ [28, tr. Trong các định nghĩa này, chỉ có “vai trò” theo cách hiểu của J.H Fischer có đề cập đến nhóm XH.
Như vậy, nói đến vai trò XH có nghĩa là nói đến những hành vi mà XH mong đợi ở một cá nhân hoặc nhóm XH nào đó. DH là một tổ chức, một thiết chế bao gồm tập hợp các cá nhân với những vai trò XH cụ thể, vậy vai trò của DH ở đề tài này được hiểu là tập hợp những mong đợi, chức năng, quyền hạn và nghĩa vụ của DH được thực hiện trên cơ sở vị thế của DH. “Dòng họ” Tính đến thời điểm này có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “DH” của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu sau: Theo Từ điển Tiếng Việt: DH là từ dùng để chỉ “toàn thể nói chung những người cùng huyết thống làm thành các thế hệ nối tiếp nhau” [34, tr.
Nelly Krowolski định nghĩa: “Tộc hay DH tập hợp toàn thể con cháu bên nội của cùng một ông tổ được thừa nhận. Nguyễn Từ Chi quan niệm: “Họ, quá lắm cũng chỉ có thể xem là một dạng đặc biệt của GĐ mở rộng, mà tác dụng chính đối với các thành viên của nó (tức là các GĐ nhỏ hợp thành nó) là tạo ra một niềm cộng cảm dựa trên huyết thống. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phan Đại Doãn đã viết: “Theo nghĩa rộng thì DH, ngoài mối liên hệ ngang lại có mối liên hệ dọc đứng đến 9 đời (cửu tộc), ngoài ra còn có quan hệ nội ngoại, nhưng huyết thống bên nội là quan hệ quyết định nhất. Phan Văn Các trong cuộc hội thảo VH DH ở Nghệ An tổ chức tại Vinh ngày 4 và 5 tháng 3 năm 1997, đã cho rằng: “DH là một hiện tượng lịch sử XH đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại.
Ý thức về DH là dấu hiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của XH loài người từ mông muội đến văn minh. Tác giả Mai Văn Hai xác định rằng: “DH là toàn thể những người cùng huyết thống với nhau. Mỗi DH thường bắt nguồn từ một thủy tổ thường là người có công “khai sơn phá thạch”, khởi đầu DH tại một địa vực nhất định, mặc dù khái niệm vị thủy tổ chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối. Theo thời gian DH có thể sinh sôi nảy nở bao gồm nhiều chi ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ.
Theo cách hiểu của Nguyễn Tuấn Anh: “DH là một thiết chế XH mang tính phổ quát toàn nhân loại. Là một cộng đồng người hình thành trên cơ sở quan hệ huyết thống thể hiện qua ý niệm về dòng dõi từ một ông tổ chung. DH là một thực thể vừa mang tính sinh học vừa mang tính XH và biến đổi qua thời đại. Như vậy, ở đề tài này có thể hiểu khái niệm “DH” theo cách hiểu của Nguyễn Tuấn Anh, nghĩa là DH như một thiết chế XH, có quan hệ huyết thống với ý niệm về ông tổ chung và biến đổi qua thời gian.
“Nông thôn” Theo Wirth (1938: 7): “NT là nơi xa xôi so với các trung tâm thành phố, là nơi có mật độ dân số thấp, sản xuất các mặt hàng giản đơn và liên quan nhiều đến nông nghiệp; có ít dịch vụ XH; duy trì kiểm soát XH bằng cách phi chính thức và tính tổ chức rất giản đơn. Theo Osipov (1976: 94): “ NT là một cộng đồng XH-lãnh thổ được hình thành một cách nhất định về lịch sử trong quá trình phân công lao động XH và đặc điểm của nó là số lượng dân cư ít ỏi, mật độ dân cư tương đối thấp với vai trò đáng kể của lao động nông nghiệp. Howard Newby (1988:17-25) đã tập hợp các khái niệm và rút ra 4 đặc điểm chung nhận dạng NT mà hầu hết các khái niệm đều có: 1/ Sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai, 2/ Cộng đồng quy mô nhỏ và có mật độ dân số tương đối thấp, 3/ VH truyền thống thuần nhất và biến đổi 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chậm chạp, 4/ MT sống chưa bị mất cân bằng, hài hòa giữa con người và tự nhiên. Yếu tố sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai được ghi nhận là đặc trưng cơ bản nhất để nhận diện NT [22, tr.Tô Duy Hợp đã bổ sung thêm 2 tiêu chí dựa trên 4 đặc điểm nhận dạng NT mà Howard Newby đã đưa ra, đó là: 1/Cơ sở hạ tầng và dịch vụ XH thấp kém, 2/ Làng, xã là hành chính đơn vị cơ bản [22, tr.
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, NT: “NT là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. Ở đề tài này, NT được hiểu là một tiểu XH đặc thù trong XH tổng thể có người nông dân là chủ thể, sản xuất nông nghiệp là chính, mang dấu ấn kinh tế, VH, XH, lối sống và MT nằm trong sự so sánh với đô thị. “Nông thôn mới” Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về NTM. Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, “NTM là khu vực NT có kết cấu hạ tầng kinh tế - XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển NT với đô thị theo quy hoạch; XH NT dân chủ, ổn định, giàu bản sắc VH dân tộc; MT sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XH chủ nghĩa.
Nhóm tiêu chí “Văn hóa – xã hội – môi trường” Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - XH; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về VH - XH - MT và về hệ thống chính trị [37].