Chương 1: Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam và vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Chương 2: Những nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Chương 3: Một số nhận xét. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1.
Quan niệm về doanh nghiệp nhà nƣớc 1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước Khái niệm DNNN vẫn đang là đề tài tranh luận của nhiều học giả trong và ngoài nước. Theo Liên Hợp Quốc, DNNN là những doanh nghiệp do Nhà nước nắm toàn bộ hoặc một phần vốn tại doanh nghiệp và Nhà nước có quyền kiểm soát tới một mức độ nhất định quá trình đưa ra những quyết sách của doanh nghiệp. Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới, DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của Nhà nước mà phần lớn thu nhập của họ được tạo ra thông qua việc bán hàng hoá và dịch vụ.
Ở Pháp, DNNN được xác định là những doanh nghiệp thoả mãn đủ 3 điều kiện: Thứ nhất: tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ đó có thể xác định được địa vị lãnh đạo của Nhà nước đối với doanh nghiệp; thứ hai: có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là nó có địa vị pháp lý như các doanh nghiệp pháp nhân khác trong cùng hoạt động kinh tế; thứ ba, là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của Chính phủ. Các nước khác như Phần Lan, Thuỵ Điển, Brazin, Tây Ban Nha, Australia. đều xác định các doanh nghiệp trong đó Nhà nước chiếm trên 50% vốn là DNNN [33, tr8-9] Võ Đại Lược (1997): Đổi mới DNNN ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội chủ nghĩa, Hà Nội. Tuy nhiên, một số nước xác định tỷ lệ này thấp hơn, ví dụ Hàn Quốc: 10%; Italia: 25%; Malaysia: 20%; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ấn Độ xác định: tất cả các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá trong các ngành công nông nghiệp và dịch vụ tính giá thành được do Chính phủ là người chủ sở hữu chủ yếu đều thuộc DNNN, hay còn gọi là xí nghiệp công doanh.
Chính phủ bao gồm cả Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương [46; tr. Có thể thấy, tiêu chí cụ thể để nhận biết, phân biệt DNNN trong các định nghĩa trên là quyền sở hữu của Nhà nước trong các doanh nghiệp này. Từ đó, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp hoặc có thể kiểm soát những chính sách chung của doanh nghiệp và bổ nhiệm hoặc bãi chức ban quản lý doanh nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hoặc bán hàng hoá và dịch vụ cho công chúng, hoặc cho các doanh nghiệp khác.
Thứ ba, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thứ tư, chính phủ có quyền chi phối các quyết định, hay ban hành các điều lệ đặc biệt thông qua cơ chế khống chế cổ phần. Ở Việt Nam, DNNN được hiểu là những doanh nghiệp mang những đặc trưng cơ bản sau đây: Nhà nước có một tỷ lệ vốn nhất định trong doanh nghiệp, nhờ đó có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp với doanh nghiệp, các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân, nguồn thu chủ yếu từ hoạt động kinh doanh, và phải thực hiện song song các mục tiêu lợi nhuận, lẫn mục tiêu xã hội. Theo Sắc lệnh số 104/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, ban hành ngày 1/1/1948, DNNN được gọi là doanh nghiệp quốc gia.
Điều 2 Sắc lệnh này quy định: doanh nghiệp quốc gia là một doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển. Bước sang Đại hội Đảng lần thứ VI, khi nền kinh tế Việt Nam chuyển sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com XHCN, quan niệm về DNNN cũng có sự thay đổi. Thuật ngữ “DNNN” được sử dụng chính thức trong quy chế thành lập - giải thể DNNN ban hành theo nghị quyết 388/HDBT, ngày 20-11-1991 của chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, theo đó, DNNN là một tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu DNNN là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Bộ luật doanh nghiệp 2014 sửa đổi yêu cầu vốn điều lệ để trở thành một DNNN phải là 100%, chứ không dừng ở mức 50% như Bộ luật năm 2005.
Qua những quan niệm trên, gắn với thực tiễn Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số tiêu chí để xác định DNNN như sau: Mức độ sở hữu nhà nước về vốn tại doanh nghiệp, khả năng quyền hạn của nhà nước trong việc thực hiện quyền sở hữu tại doanh nghiệp. Về mức độ sở hữu vốn: Hiện nay, luật pháp Việt Nam quy định mức độ để trở thành một DNNN phải là 100% vốn điều lệ. Quy định này giúp giảm áp lực cho chính phủ, các doanh nghiệp sẽ được tự do hoạt động hơn, giúp quá trình cổ phần hóa DNNN sẽ diễn ra hiệu quả. Về tính chất hoạt động: DNNN là doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có hạch toán lỗ lãi.
Điều này phân biệt DNNN với đơn vị sự nghiệp công lập. Về địa vị pháp lý: DNNN có tư cách pháp nhân độc lập, điều này khẳng định quyền và nghĩa vụ dân sự mà các doanh nghiệp tham gia các quan hệ pháp lý, khả năng tự chủ về vốn, có tên giao dịch riêng, con dấu riêng, nơi đặt trụ sở. Như vậy, từ những tiêu chí trên có thể rút ra một khái niệm tổng quát về DNNN như sau: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước đầu tư vốn toàn bộ, có khả năng, kiểm soát chi phối được các hoạt động doanh nghiệp nhằm thực hiện hai mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao” [8; tr. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập, hình thức tổ chức sản xuất doanh nghiệp mới được phát triển, nó là sản phẩm của nền sản xuất xã hội hóa, còn trước đó thì đơn vị cơ bản trong quá trình vận hành của nền kinh tế xã hội là gia đình, dòng tộc hoặc các công trường thủ công.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tư bản đã tạo điều kiện phát triển vượt bậc cho nền kinh tế toàn cầu như Ăng-ghen đã khẳng định: “Trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại” [79]. Tuy nhiên, trong chủ nghĩa tư bản, sự phát triển hơn nữa của lực lượng sản xuất, mâu thuẫn giữa cung và cầu, cuối cùng đã làm nổ ra cuộc khủng hoảng kinh tế. Đứng trước tình hình đó, chủ nghĩa tư bản, các tổ chức kinh tế phải tự có những điều chỉnh tương ứng. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước phương Tây áp dụng một cách phổ biến các biện pháp quản lý vĩ mô, “bàn tay hữu hình”, theo đó chính sách quốc hữu hóa ra đời để đáp ứng những đòi hỏi đó.
Bắt đầu từ những năm 70, dưới ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa tự do, phong trào tư nhân hóa các DNNN đã diễn ra mạnh mẽ. Song cho tới nay, dù ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, DNNN, và kinh tế nhà nước vẫn chiếm một tỷ trọng không nhỏ. Điều đó đã chứng minh sự ra đời và tồn tại của các DNNN không phải là ngẫu nhiên mà là sản phẩm tất yếu quá trình xã hội hóa sản xuất. Quan niệm về vai trò của doanh nghiệp nhà nước Vai trò có thể được hiểu là “hành vi được quy định hoặc kỳ vọng liên quan tới một vị trí hoặc cương vị trong một nhóm hoặc tổ chức” [89].
Theo cách tiếp cận xã hội học, có thể định nghĩa vai trò là “những quyền, nghĩa vụ và khuôn mẫu hành vi được kỳ vọng liên quan tới một địa vị xã hội cụ thể” [90]. Như vậy, vai trò là những đặc tính và hành vi xã hội được quy định cụ 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thể hoặc kỳ vọng đối với một cá nhân, tổ chức nào đó trong một lĩnh vực nhất định. Trong xã hội, mỗi cá nhân, nhóm, tổ chức đều có những vai trò riêng. Một vai trò có thể do một, hoặc nhiều cá nhân, tổ chức cùng đảm nhiệm.
Một cá nhân, tổ chức lại có thể thực hiện cùng một lúc nhiều vai trò khác nhau. Trong xã hội hiện đại, sự chuyên môn hóa cao độ khiến cho nhiều vai trò mới nảy sinh và nhiều vai trò truyền thống bị giảm tầm quan trọng hoặc mất đi. Điều này có thể được thể hiện rõ trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Với việc máy móc tiên tiến có khả năng thực hiện được những công việc phức tạp, nhiều công nhân chỉ lao động chân tay thuần túy đã bị mất việc làm do sử dụng máy móc đem lại hiệu quả công việc và lợi nhuận cao hơn.
Mặc khác, cũng có nhiều vai trò vẫn được duy trì nhưng đã có sự thay đổi về nội dung và chức năng cụ thể. Ví dụ, cùng là vai trò bảo vệ chế độ chính trị, nhưng những nhiệm vụ, chức năng cụ thể của lực lượng vũ trang đã có sự thay đổi không nhỏ giữa thời kỳ Chiến tranh lạnh (đề cao vai trò của ý thức hệ) và bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay (ý thức hệ không phải là yếu tố quyết định trong việc lựa chọn đối tác). Tóm lại, xã hội là một sự tổng hòa của nhiều vai trò khác nhau. Mỗi chủ thể tồn tại trong xã hội đều đảm nhiệm một tập hợp các vai trò nhất định và phải nỗ lực để hoàn thành tốt nhất có thể những vai trò đó.
Những cá nhân, tổ chức không hoàn thành được vai trò của mình đối với xã hội sẽ bị tái điều chỉnh hoặc đào thải. Từ những phân tích trên, có thể hiểu vai trò của DNNN là những trách nhiệm, chức năng được quy định chính thức, thể hiện trong thực tế hoặc được kỳ vọng của DNNN trong một lĩnh vực cụ thể nào đó, đặc biệt là là lĩnh vực kinh tế. Kinh tế nhà nước là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân của các quốc gia.