CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ CỦA VỐN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước liên quan đến đề tài luận án 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực tế được thực hiện nhằm tìm ra mối liên hệ giữa trình độ giáo dục hay rộng hơn là vốn con người và tăng trưởng kinh tế hay chất lượng tăng trưởng kinh tế. Theo cách tiếp cận vĩ mô, nhiều nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện về m t lý thuyết cũng như thực tiễn ở nhiều quốc gia. Nghiên cứu Investment in Human, Technological Diffusion and Economic Growth” của Nelson-Phelps (1966) về mối quan hệ giữa đầu tư vào vốn con người, sự lan tỏa công nghệ và tăng trưởng kinh tế đã chỉ ra rằng lượng vốn con người (stock of human capital) là động lực chính của tăng trưởng kinh tế [44].
Nghiên cứu này nhấn mạnh sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng giữa các quốc gia được quyết định bởi sự khác nhau về lượng vốn con người và do đó được quyết định bởi khả năng tạo ra các tiến bộ công nghệ. Trong nghiên cứu của mình, Nelson và Phelps dựa trên giả định về tiến bộ kỹ thuật trung tính của Harrod đã đưa ra 2 mô hình về sự lan tỏa công nghệ: + Mô hình thứ nhất phát biểu rằng độ trễ về thời gian giữa việc tạo ra kỹ thuật mới và việc áp dụng nó là một hàm giảm dần của chỉ số về kết quả giáo dục (hay mức độ vốn con người được sử dụng). Kết luận quan trọng của mô hình này là: nếu các yếu tố khác không thay đổi, kết quả giáo dục tăng lên s làm gia tăng tốc độ tiến bộ công nghệ hay nói một cách khác khi vốn con người tăng lên s làm giảm độ trễ về m t thời gian giữa việc phát minh ra công nghệ và ứng dụng công nghệ từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn. 7 + Mô hình thứ hai phát biểu rằng tốc độ tiến bộ công nghệ mới nhất được ứng dụng trong thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố: (i) trình độ giáo dục (vốn con người) và (ii) khoảng cách giữa trình độ công nghệ về m t lý thuyết và trình độ công nghệ trong thực tế.
Như vậy, nghiên cứu của Nelson và Phelps đã đưa đến kết luận là có mối liên hệ giữa giáo dục (vốn con người) và tăng trưởng kinh tế thông qua mối quan hệ giữa trình độ giáo dục và sự lan tỏa công nghệ. Công trình nghiên cứu On the Mechanics of Economic Development của Lucas (1988) chủ yếu dựa trên mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã nghiên cứu về cơ chế của phát triển kinh tế thông qua việc xem xét 3 mô hình: + Mô hình thứ nhất nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa tích lũy vốn hiện vật và tiến bộ công nghệ + Mô hình thứ hai nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn con người thông qua giáo dục đào tạo. Thông qua mô hình này Lucas đã kết luận đầu tư cho giáo dục có tác động rõ rệt đến năng suất của người lao động + Mô hình thứ ba nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn con người thông qua tích lũy kinh nghiệm (learning by doing) Nghiên cứu của Mankiw, Romer và Neil (1992) A Contribution to the Empirics of Economic Growth dựa trên mô hình tăng trưởng của Solow nhưng bổ sung yếu tố vốn con người. Mô hình của Solow coi tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ là những yếu tố ngoại sinh.
Đầu vào của sản xuất bao gồm 2 yếu tố là vốn và lao động. Hàm sản xuất trong mô hình của Solow có dạng Y (t ) K (t ) ( A(t ) L(t ))1 0 1 Trong đó Y là sản lượng, K là vốn, L là lao động và A là trình độ công nghệ. L và A được giả định là tăng trưởng một cách ngoại sinh. 8 Sau khi bổ sung yếu tố vốn con người, hàm sản xuất có dạng Y (t ) K (t ) H (t ) ( A(t ) L(t ))1 ở đó H là lượng vốn con người, còn các biến số khác vẫn như trong mô hình của Solow [41].
Khi ứng dụng hàm sản xuất trên vào nghiên cứu thực tế, các tác giả đã giới hạn đầu tư cho vốn con người vào giáo dục và bỏ qua đầu tư cho sức khỏe. M c dù vấn đề đã được giới hạn nhưng việc đo lường vốn con người vẫn g p nhiều khó khăn. Khi dùng dữ liệu thực tế để đưa vào mô hình phân tích định lượng, các tác giả đã lấy tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đang theo học trung học cơ sở (THCS) là đại diện cho tỷ lệ tích lũy vốn con người. Dữ liệu sử dụng để phân tích định lượng được lấy từ Niên giám của UNESCO.
Phương trình hồi quy trong nghiên cứu có dạng: Log(GDP bình quân trên người trong độ tuổi lao động) = a 1 + a2log(tỷ lệ đầu tư) + a3log(tỷ lệ tăng dân số+tỷ lệ tăng trưởng +tỷ lệ khấu hao)+ a 3log(tỷ lệ dân số đang theo học THCS). Phân tích định lượng được tiến hành với 3 nhóm nước: (i) các nước không xuất khẩu dầu mỏ. Kết quả là biến số đo lường vốn con người đều có ý nghĩa ở cả 3 nhóm. Nghiên cứu Hanushek và öβmann (2007) thông qua nghiên cứu The Role of Education Quality in Economic Growth” đã khẳng định vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Để có được kết luận này, Hanushek và öβmann đã sử dụng mô hình kinh tế lượng để tìm ra mối liên hệ giữa các biến số về giáo dục với tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là đại diện cho tăng trưởng kinh tế. Phương trình hồi quy cụ thể trong nghiên cứu này có dạng như sau: 9 Tốc độ tăng trưởng hàng năm trung bình của thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 1960-2000 = a1 + a2GDP bình quân đầu người tại năm 1960 + Số năm đi học trung bình tại năm 1960 +a3 Điểm kiểm tra trung bình Phương trình hồi quy trên được áp dụng phân tích theo 2 cách: Cách 1: Chia mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm là các nước OECD và các nước ngoài OECD. Kết quả là ảnh hưởng của chất lượng giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước ngoài OECD là lớn hơn, tuy nhiên mức độ khác biệt không nhiều. Cách 2: Chia mẫu nghiên cứu thành 2 nhóm là các nước thu nhập thấp và thu nhập cao.
Tiêu chí phân nhóm ở đây là so sánh thu nhập của các nước so với mức thu nhập trung bình của tất cả các nước vào thời điểm năm 1960. Kết quả là ảnh hưởng của chất lượng giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế là rõ ràng ở cả hai nhóm nước, trong đó ảnh hưởng của chất lượng giáo dục là lớn hơn đối với nhóm các nước thu nhập thấp. Từ hai cách nghiên cứu trên, các tác giả đã đưa đến kết luận là đối với các nước đang phát triển, chất lượng giáo dục có ảnh hưởng nhiều hơn đến tăng trưởng kinh tế so với các nước phát triển. Thông qua kết luận này, một ý nghĩa quan trọng có thể rút ra rằng các nước đang phát triển cần chú trọng hơn đến đầu tư cho giáo dục để có thể đảm bảo được tăng trưởng kinh tế ổn định và lâu dài [36].
Một số nghiên cứu khác sử dụng cách tiếp cận hạch toán tăng trưởng (growth accounting approach) để phân tích sự khác biệt giữa các quốc gia về vấn đề tăng trưởng như các nghiên cứu củaBosworth và Collins (2013) và Abed (2004)cho thấy chỉ sự gia tăng các nhân tố sản xuất không thôi thì không thể giải thích được tăng trưởng kinh tế [49], [53]. Hay nghiên cứu của Easterly và Levine (2001) trong It’s not Factor Accumulation Stylized Facts and Growth Models đã đưa yếu tố A trong hàm sản xuất Cobb-Douglas chuẩn có dạng Yt= At f(Kt, Lt) là nhân tố 10 quan trọng đối với tăng trưởng, ở đó Y là sản lượng, K là vốn hiện vật và L là số lượng lao động và A thường được coi là TFP. Một phần đáng kể trong sự khác biệt về tăng trưởng giữa các quốc gia được giải thích bởi sự khác biệt về TFP. TFP cũng phản ánh chất lượng của lao động.
Lao động được đào tạo và có kỹ năng s có khả năng tạo ra mức sản lượng lớn hơn lực lượng lao động không có trình độ [35]. Dựa trên một cách tiếp cận khác về vốn con người Altinok (2007) trong Human Capital Quality and Economic Growth đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng vốn con người và tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu được tiến hành dựa vào các tiêu chí đánh giá mới về vốn con người bao gồm một tập hợp các khảo sát quốc tế về đánh giá năng lực học sinh. Đây được xem là đại diện cho chất lượng vốn con người.
Các tiêu chí này bao gồm các kỹ năng về các môn toán học, khoa học và đọc hiểu. Trước hết, tác giả đã sử dụng dữ liệu chéo (cross data) bao gồm 120 quốc gia và dữ liệu mảng (panel data) bao gồm dữ liệu về rất nhiều quốc gia trong giai đoạn từ 1960-2005. Nghiên cứu đã chỉ ra tác động tích cực của chất lượng vốn con người đến tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 1960-2000. Đây là nghiên cứu đầu tiên có đưa yếu tố chất lượng giáo dục khi sử dụng dữ liệu mảng.
Một đóng góp quan trọng của nghiên cứu này là xét đến thêm nhiều quốc gia hơn bao gồm cả các nước có thu nhập trung bình ho c thấp (trong khi đó hầu hết các nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào nhóm nước thu nhập cao). Cụ thể, trong nghiên cứu này có xem xét đến 27 nước Châu Phi ở vung cận Sahara [26]. Trong một nghiên cứu cho khu vực Châu Á về mối quan hệ giữa vốn con người và tăng trưởng kinh tế Human Capital and Economic Growth in Asia 1890- 2000: a time-series analysis , Bas van Leeuwen (2005) đã dựa trên các nghiên cứu của Lucas (1988) và Romer (1989) đã đưa ra một số kết luận về vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế. Sử dụng kiểm định Johansen, nghiên cứu đã chỉ ra đối với trường hợp Indonesia và Ấn Độ, trình độ giáo dục đồng kết hợp (cointegration) với thu nhập trong suốt thế kỷ 20.
Kết luận này phù hợp với kết quả 11 nghiên cứu của Lucas (1988).