CHƯƠNG 1 Thi hành bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đóng vai trò rất lớn trong việc bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Và để thực hiện tốt hoạt động này, cần có nhiều yếu tố tác động, trong đó phải kể đến vai trò của hệ thống Tòa án nhất là việc chuyển giao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cũng như việc giải thích bản án quyết định của Tòa án. Trong Chương này, tác giả tập trung phân tích vai trò của Tòa án trong hai vấn đề: (i) Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc chuyển giao bản án, Quyết định cho cơ quan thi hành án dân sự và (ii) Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc giải thích bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Từ những phân tích đó, tác giả đưa ra được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vai trò của Tòa án trong thủ tục thi hành án, bao gồm: Thứ nhất, xem xét sửa đổi quy định về thời hạn chuyển giao bản án, quyết định theo hướng kéo dài thời hạn, nhưng vẫn đảm bảo tính kịp thời thi hành đối với các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án, đặc biệt là những bản án, quyết định cần phải được thi hành ngay lập tức như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Thứ hai, triển khai thống nhất cho các TAND cấp huyện đó là cách thức giao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, có những biện pháp xử lý mạnh tay đối với các vi phạm trong việc chậm chuyển giao bản án, quyết định. Thứ tư, cần có hướng dẫn cụ thể đối với thẩm quyền giải thích bản án, quyết định của Tòa án. 18 CHƯƠNG 2 NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC XEM XÉT MIỄN, GIẢM NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI KHOẢN THU NỘP NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH TÀI SẢN CỦA NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN 2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước Việc xét miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014, sau đây gọi tắt là Luật Thi hành án dân sự) đã và đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thẩm phán, giúp giải quyết được phần nào tình trạng thi hành án tồn đọng kéo dài từ nhiều năm do người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án.
Điều 61 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định: Điều kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước như sau: “1. Người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng; b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị dưới 2.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000 đồng đến dưới 5. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây: a) Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới 5.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000 đồng đến dưới 10. Người phải thi hành án đã thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành án khi có một trong các điều kiện sau đây: a) Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 10.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án; b) Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không quá 50.
Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại. Người phải thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định. Quyết định thi hành án lần đầu là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này.” Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật để xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước, tác giả nhận thấy còn một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập như sau: Thứ nhất, về lãi suất chậm thi hành án Thực tế hiện nay nhiều bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên phần lãi suất chậm thi hành án đối với người phải thi hành án nhưng nhiều Tòa án địa phương không đưa khoản tiền lãi chậm thi hành án của khoản tiền phải thu nộp ngân sách để tính vào khi xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Điều 2 Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã có quy định: “Các khoản thu, nộp cho ngân sách nhà nước thuộc diện được xét miễn, giảm thi hành án gồm tiền phạt, truy thu tiền, tài sản 20 thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án, tịch thu sung quỹ nhà nước, các khoản thu, nộp khác cho ngân sách nhà nước được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; lãi chậm thi hành án đối với khoản được miễn, giảm (nếu có)”; nhưng khi xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án thì đa số các Tòa án đều thường không xem xét đến “khoản lãi chậm thi hành án” đối với các khoản thu, nộp cho ngân sách Nhà nước này. Lý do là điều kiện về thời gian được xét miễn tối thiểu là 05 năm đối với khoản tiền dưới 2.000 đồng, như vậy sau 05 năm khoản tiền lãi chậm thi hành án của khoản tiền phải thu nộp ngân sách không phải là nhỏ. Nếu cộng thêm khoản tiền lãi này vào khoản phải thi hành án thì có thể nghĩa vụ thi hành án sẽ lớn hơn 2. Như vậy với số tiền trên 2.000 đồng thì điều kiện về thời gian để được xét miễn lại là 10 năm.
Sau 10 năm khoản tiền lãi cộng vào sẽ là trên 5.000 đồng, như vậy, sẽ không đủ điều kiện để được xét miễn thi hành án mà chỉ đủ điều kiện để xét giảm thi hành án. Thứ hai, về điều kiện được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án Quy định về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước còn vướng mắc, bất cập, đồng thời chưa khuyến khích người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Điều 61 Luật THADS 2014 quy định các trường hợp được miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, cụ thể: Theo quy định của điều luật, có thể thấy ngay bất cập về trường hợp Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000 đồng đến dưới 10.000 đồng thì không được xem xét để giảm mà phải đợi đến 10 năm mới được xem xét để miễn. Cũng không có quy định về hạn chế số lần được xét giảm, có nghĩa là từ năm hết thời hạn (05 năm hoặc 10 năm), thì lần lượt trong các năm tiếp theo đều có thể được xét giảm.
Mặt khác, cũng không có hướng dẫn cụ thể về việc mức được xét giảm, mà chỉ quy định là “mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền còn lại phải thi hành án”, dẫn đến việc các Chấp hành viên khi đề nghị xét giảm thường đưa ra mức tối đa là ¼, các đơn vị Tòa án cũng thường chấp nhận mức tối đa này, bởi lẽ không có căn cứ nào để không chấp nhận. Thêm vào đó, các quy định hiện hành về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu nộp cho ngân sách mới chỉ hướng tới đối tượng người phải thi hành án là cá nhân mà chưa giải quyết cho các đối tượng là pháp nhân. Do đó, thực tế hiện nay những vụ việc người phải thi hành án là doanh nghiệp phải thi hành án 21 các khoản nộp án phí hoặc các khoản thu nộp cho ngân sách nhà nước (nhất là sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 có hiệu lực thi hành) nhưng chưa có điều kiện thi hành án là rất lớn nhưng vẫn không được xem xét để miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án vì chưa có quy định. Thứ ba, về hình thức quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án Hiện nay, các quyết định xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của các đơn vị Tòa án áp dụng không theo một mẫu thống nhất trên toàn quốc.