phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 9 z Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY ƢỚC LÀNG VĂN HÓA VÀ ĐẢM BẢO AN NINH NÔNG THÔN 1. Làng văn hóa và quy ước làng văn hóa 1. Khái niệm làng văn hóa Trong đời sống xã hội Việt Nam cổ truyền, “làng xã có vị trí hết sức đặc biệt, làng là đơn vị cơ bản hình thành quốc gia dân tộc.
Nước (quốc gia) chỉ là tổng số, là kết quả của sự liên kết các làng, xã, là “liên làng”. Làng có vai trò gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc. Làng là nhân tố giữ vai trò quyết định trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc “còn làng còn nước”. Làng - là một từ Nôm, là đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất, bởi nó có địa vực riêng, có cơ cấu tổ chức và tục lệ riêng, hoàn chỉnh và ổn định qua quá trình phát triển của lịch sử.
Cùng với việc xuất hiện làng trong lịch sử Việt Nam, văn hóa làng cũng ra đời, trở thành nét đặc trưng của văn hóa dân tộc. Cho đến nay, khái niệm làng được bàn đến ở nhiều góc độ khác nhau. TS Nguyễn Đăng Dung, “… làng xã phải là nơi đồng quê nhiều gia đình ở quy tụ thành khu được gọi là xóm, các xóm phân biệt nhau bằng các lũy tre xanh. Trên đường đi vào thường có các cổng xây hoặc tre, đến đêm tối có thể đóng lại được, để phòng ngừa trộm cướp.
Hai, ba, bốn hoặc có khi là năm, sáu xóm họp thành một thôn gọi là làng” [38; tr. Khái niệm này đã cho ta cái nhìn bao quát và tổng thể về làng. Tác giả đã đi từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình rồi đến xóm, tập hợp các xóm tạo thành làng. Thông qua khái niệm, tác giả cũng chỉ ra tên gọi tương đồng với làng là thôn.
Tùy theo mỗi vùng miền, địa phương mà làng có những cách gọi khác nhau. Giáo sư Từ Chi thì định nghĩa về làng mang tính tổng quát, làng xã là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng. 10 z Giáo sư đã xem xét làng ở nhiều góc độ khác nhau. Khái niệm này cho thấy sự đa dạng của đơn vị làng.
Làng không chỉ đơn thuần được xem xét dưới một lĩnh vực mà ở tổng thể nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác nhau. Giáo sư Phan Đại Doãn cho rằng, “Làng là một điểm dân cư, một hình thức công xã nông thôn, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức xã hội riêng, lệ tục riêng… rất chặt chẽ và hoàn chỉnh” [38; tr. Định nghĩa này có những nét tương đồng với Giáo sư Bùi Xuân Đính khi cho rằng: làng là đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt, có địa vực riêng, có cơ sở hạ tầng cùng cơ cấu tổ chức riêng, tục lệ riêng…nhưng chặt chẽ và hoàn chỉnh nhất. Cả hai định nghĩa này đều nói lên sự khác biệt, đặc trưng riêng của làng với những đơn vị xã hội khác tạo nên tính khu biệt đặc thù.
Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “ Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu nông tự cấp, tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình- tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền vững của xã hội nông nghiệp ấy. Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ. Một mặt, làng có sức sống mãnh liệt, mặt khác, xét về cấu trúc, làng là cấu trúc động, không có bất biến. Sự biến đổi của làng là do sự biến đổi chung của đất nước qua tác động của những mối liên hệ làng và siêu làng” [73; tr.
Khái niệm này bao trùm mọi yếu tố của làng và xét đến cả nguồn gốc hình thành của nó. Như vậy, làng là một sản phẩm của quá trình định cư và cộng cư của người Việt. Làng từ một cộng đồng tụ cư trở thành một đơn vị kinh tế - xã hội hoàn chỉnh, một đơn vị kinh tế tự cung, tự cấp của người nông dân. Làng là một đơn vị hành chính cơ sở của tổ chức nhà nước, một không gian sinh hoạt văn hóa độc lập của người Việt Nam.
Đồng thời làng là một thiết chế xã hội, 11 z trong đó các thành viên liên kết với nhau dựa trên quan hệ huyết thống hoặc địa vực cư trú nhất định và có quan hệ lợi ích chung với nhau. Làng có cơ sở kinh tế, có thiết chế tổ chức tương đối độc lập, có nền văn hóa riêng tạo thành bản sắc riêng của làng. Làng là sự tổng hòa của các yếu tố kinh tế- chính trị- văn hóa- xã hội, tạo thành sự thống nhất trong tổ chức làng. Trong quá trình hình thành và phát triển, làng Việt được phân chia như sau: Theo thời gian hình thành, có các làng đầu công nguyên, các làng thời Lý - Trần, làng thời Lê sơ, Lê - Trịnh - Nguyễn; làng thời Nguyễn và cả những làng mới hình thành gần đây do những chính sách phát triển kinh tế - văn hoá của Nhà nước ta.
Theo vùng địa lý, có các loại làng miền Bắc; các làng miền Trung; làng miền Nam; làng Trung du; làng đồng bằng; làng ven biển. Theo nghề nghiệp, có các làng thủ công; các loại làng nông nghiệp; làng chài; làng muối. Theo phương thức thành lập, có các loại làng do nhóm cư dân khai hoang tập thể hoặc nhà nước thực hiện chính sách khai hoang…. Làng văn hóa là sự phát huy và phát triển những giá trị của văn hóa làng trong thời đại mới.
Văn hóa làng chính là nền tảng để chúng ta xây dựng làng văn hóa một cách vững chắc trong bối cảnh hiện nay. Thực tế đã chứng minh, trong quá khứ lịch sử cũng như hiện tại và tương lai, làng luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, là nơi lưu giữ trường tồn những giá trị vật chất, tinh thần và bản sắc văn hóa dân tộc. Việc xây dựng làng văn hóa là nhằm phát huy cao độ những giá trị vốn có của văn hóa làng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được ước mơ, nguyện vọng chính đáng của mọi người dân. Đây là cơ sở để hạn chế đẩy lùi những yếu kém đang tồn tại trong môi trường xã hội nói chung và môi trường văn hóa ở làng quê nói riêng.
12 z Xây dựng nông thôn mới có kinh tế phát triển, đời sống văn hóa phong phú, lành mạnh, có cơ sở hạ tầng vật chất và xã hội đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nông dân, có hệ thống chính trị vững mạnh, phát huy dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội, tăng cường đoàn kết và ổn định trong nông thôn, giữ gìn trật tự xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng an ninh…cần phải đặc biệt chú trọng đến nội dung xây dựng làng văn hóa. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đưa ra 5 tiêu chuẩn để công nhận làng văn hóa là: “ Tiêu chuẩn 1, đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển: a) Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là bình quân chung); b) Có phong trào xóa nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà bền vững cao hơn mức bình quân chung. c) Có nhiều hoạt động hiệu quả: Về tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng khoa học - kỹ thuật; phát triển nghề truyền thống; hợp tác và liên kết phát triển kinh tế; d) Tỷ lệ lao động có việc làm, thu nhập bình quân đầu người/ năm cao hơn mức bình quân chung; đ) Có 80% trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội ở cộng đồng. Tiêu chuẩn 2, đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú: a) Nhà Văn hóa-Khu thể thao thôn (làng, ấp, bản và tương đương) từng bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; b) Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số người dân tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng; c) Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá và hành nghề mê tín dị đoan; 13 z d) Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; không có người sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại; đ) Có 70% trở lên hộ gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”, trong đó ít nhất 50% gia đình văn hóa được công nhận 3 năm trở lên; e) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài; g) Không có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm chủng đầy đủ và phụ nữ có thai được khám định kỳ; h) Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình; i) Có nhiều hoạt động đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trình công cộng; bảo tồn các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền thống ở địa phương.
Tiêu chuẩn 3, môi trường cảnh quan sạch đẹp: a) Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải về nơi xử lý tập trung theo quy định; b) Tỷ lệ hộ gia đình có 3 công trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm, hố xí) đạt chuẩn, cao hơn mức bình quân chung; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; c) Nhà ở khu dân cư, các công trình công cộng, nghĩa trang được xây dựng từng bước theo quy hoạch; d) Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường sinh thái; vận động nhân dân xây dựng cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước; cải tạo các ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh.