Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Kinh tế của tác giả Lê Trang Nhung (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2024) tiếp cận chế định người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự từ yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền công dân và sự bình đẳng trước pháp luật.
- Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Điều 16 Hiến pháp năm 2013 và Điều 8 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 khẳng định nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án. Đương sự được trao các quyền tố tụng để tự bảo vệ lợi ích hợp pháp và có nghĩa vụ hợp tác với Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều chủ thể không thể hoặc không muốn tự mình tham gia tố tụng do thiếu kiến thức, kinh nghiệm, gặp rủi ro pháp lý lớn hoặc bị hạn chế, mất năng lực hành vi tố tụng dân sự. Trong các trường hợp này, sự tham gia của người đại diện theo pháp luật là cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của đương sự và bảo đảm quá trình giải quyết vụ việc dân sự diễn ra minh bạch, công bằng. Việc nghiên cứu chế định này nhằm làm rõ khung pháp luật thực định, chỉ ra các vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
- Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận xác định 03 mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về người đại diện của đương sự;
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, chỉ ra kết quả đạt được, bất cập, hạn chế, nguyên nhân; từ đó đề xuất kiến nghị nâng cao vai trò của chủ thể này.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chế định người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự, tập trung vào các quy định của BLTTDS năm 2015, các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện liên quan.
- Phạm vi nội dung: Các vấn đề lý luận pháp luật và thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của đương sự.
- Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trọng tâm là Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và BLTTDS năm 2015.
- Phạm vi thời gian: Các quy định pháp luật hiện hành, quá trình vận động từ BLTTDS năm 2015 và thực tiễn thực hiện trong 05 năm gần đây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
- Khái niệm đương sự: Khóa luận đối chiếu cách hiểu về đương sự từ góc độ ngôn ngữ (Từ điển tiếng Việt, Từ điển Từ và ngữ Hán Việt) đến khoa học luật tố tụng dân sự và quy định tại khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự; người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự).
- Học thuyết về đại diện: Khóa luận tiếp cận khái niệm đại diện từ hệ thống Common Law (học thuyết Agency của Michael C. Jensen và William Meckling xác định quan hệ ba bên: principal, agent, third party), luật học của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Luật về đại diện năm 2008), và luật thực định Việt Nam (khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015).
- Người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự: Là cá nhân hoặc pháp nhân tham gia tố tụng nhân danh và vì lợi ích của đương sự, thay mặt đương sự trước Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Hệ thống văn bản pháp luật áp dụng:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 16);
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các Điều 21, 47, 48, 51, 69, 96, 134, 135, 136, 137, 140, 141);
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các Điều 8, 24, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 85, 86, 88, 89, 90, 214);
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 73, Điều 85, 86, 87);
- Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Công đoàn năm 2012 (các Điều 10, 195–198) và Nghị định số 43/2013/NĐ-CP;
- Luật Doanh nghiệp năm 2020 (khoản 5 Điều 12).
- Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: phương pháp phân loại pháp lý (xác định ngành luật, chế định điều chỉnh), phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, mô hình hóa và điển hình hóa các quan hệ xã hội, phương pháp phân tích lịch sử, phân tích quan điểm, hệ thống hóa, thống kê và điều tra xã hội học.
- Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, giáo trình giảng dạy chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, các công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ và bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật học (Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghề luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về chế định đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự, phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò và cơ sở khoa học của việc thiết lập các quy định pháp luật:
- Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng nhân danh và vì lợi ích của đương sự. Khóa luận phân tích 03 đặc điểm cơ bản:
- Nhân danh đương sự tham gia tố tụng: Không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp mà thay mặt đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng khi đương sự không thể hoặc không đủ khả năng tham gia.
- Tham gia tố tụng trên cơ sở quan hệ đại diện: Người đại diện đồng thời tham gia hai mối quan hệ là quan hệ đại diện (pháp luật nội dung hoặc quyết định Tòa án) và quan hệ tố tụng.
- Quyền và nghĩa vụ phụ thuộc vào đương sự và bản chất quan hệ đại diện: Khác với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp có tư cách độc lập và quyền tố tụng riêng, quyền nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật gắn liền với quyền nghĩa vụ của đương sự được đại diện.
| Tiêu chí phân biệt |
Người đại diện theo pháp luật của đương sự |
Người đại diện theo ủy quyền của đương sự |
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp |
| Căn cứ xác lập |
Quy định pháp luật, Điều lệ pháp nhân, hoặc Quyết định của Tòa án (Điều 135, 136, 137 BLDS 2015). |
Hợp đồng/văn bản ủy quyền giữa đương sự và người đại diện (Điều 138 BLDS 2015). |
Hợp đồng dịch vụ pháp lý/văn bản cử, được Tòa án chấp thuận đăng ký (Điều 75 BLTTDS 2015). |
| Tư cách tham gia |
Thay mặt đương sự, nhân danh đương sự. |
Thay mặt đương sự, nhân danh đương sự trong phạm vi ủy quyền. |
Tham gia độc lập cùng đương sự, nhân danh chính mình để hỗ trợ pháp lý. |
| Phạm vi vụ việc |
Không bị giới hạn theo loại việc (kể cả việc ly hôn theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015). |
Bị giới hạn; không được đại diện khi đương sự ly hôn (khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015). |
Tham gia trong tất cả các vụ việc dân sự theo yêu cầu hỗ trợ pháp lý. |
| Quyền và nghĩa vụ |
Thực hiện toàn bộ quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo luật định. |
Giới hạn nghiêm ngặt trong phạm vi nội dung văn bản ủy quyền. |
Có hệ thống quyền, nghĩa vụ tố tụng độc lập quy định riêng tại Điều 76 BLTTDS 2015. |
- Vai trò trong tố tụng dân sự: Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự yếu thế (người chưa thành niên, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự); hỗ trợ Tòa án xác minh, làm rõ sự thật khách quan của vụ án; thúc đẩy dân chủ, công bằng xã hội và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa.
- Cơ sở khoa học xây dựng quy định: Khóa luận luận giải 05 cơ sở khoa học:
- Bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân: Tạo điều kiện cho chủ thể yếu thế thực hiện quyền tư pháp.
- Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự: Cụ thể hóa khoản 20 Điều 70 và Điều 24 BLTTDS năm 2015 về quyền tiếp cận chứng cứ, tranh luận công bằng.
- Bảo đảm người đại diện có đủ khả năng bảo vệ quyền lợi cho đương sự: Yêu cầu điều kiện chủ quan (đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, có liên hệ tin cậy như huyết thống, hôn nhân, giám hộ) và điều kiện khách quan (được cung cấp tài liệu, chứng cứ vụ án).
- Mối liên hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự: Kế thừa tư cách đại diện từ quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động vào quan hệ tố tụng.
- Bảo đảm điều chỉnh phù hợp đối với từng loại đại diện: Phân định giữa đại diện đương nhiên và đại diện do Tòa án chỉ định.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 2 phân tích chi tiết thực trạng pháp luật thực định về người đại diện theo pháp luật của đương sự theo BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015:
- Chủ thể đại diện theo pháp luật (khoản 1, khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015):
- Cha mẹ đối với con chưa thành niên: Quy định theo độ tuổi tại Điều 69 BLTTDS năm 2015:
- Trẻ em dưới 06 tuổi hoặc mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS): không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, người đại diện hợp pháp thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ;
- Người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: do người đại diện hợp pháp thực hiện quyền, nghĩa vụ tại Tòa án;
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: nếu đã tham gia lao động theo hợp đồng hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng thì được tự mình tham gia tố tụng đối với các quan hệ đó (Tòa án có quyền triệu tập người đại diện hợp pháp khi cần thiết). Đối với các việc khác, người đại diện hợp pháp vẫn thay mặt thực hiện.
- Chủ thể giám hộ đối với người được giám hộ: Gồm giám hộ đương nhiên theo thứ tự ưu tiên tại khoản 1 Điều 51 BLDS năm 2015 (vợ/chồng; cha/mẹ; con; ông/bà, anh/chị/em ruột; bác/chú/cậu/cô/dì ruột) và giám hộ cử (khoản 2 Điều 51 BLDS năm 2015 do UBND cấp xã cử cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện khi không có người giám hộ đương nhiên).
- Người do Tòa án chỉ định: Áp dụng khi không xác định được cha mẹ, người giám hộ, hoặc đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế NLHVDS.
- Đại diện theo pháp luật của pháp nhân: Xác lập theo Điều lệ, theo quy định pháp luật hoặc do Tòa án chỉ định (Điều 137 BLDS năm 2015).
- Tổ chức đại diện tập thể lao động (khoản 3 Điều 85 BLTTDS năm 2015): Công đoàn là người đại diện theo pháp luật khởi kiện và tham gia tố tụng khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể lao động bị xâm phạm, hoặc đại diện theo ủy quyền cho từng người lao động.
- Điều kiện và căn cứ pháp lý xác lập quyền đại diện: Căn cứ xác lập theo Điều 135 BLDS năm 2015 gồm quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Điều lệ pháp nhân hoặc quy định của pháp luật. Về điều kiện, cá nhân làm đại diện phải có đầy đủ NLHVDS (từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị Tòa án tuyên bố mất/hạn chế NLHVDS hoặc có khó khăn trong nhận thức). Khi tham gia tố tụng, người đại diện phải xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ đại diện (giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, quyết định tuyên bố mất/hạn chế NLHVDS của Tòa án đối với cá nhân; quyết định thành lập, Điều lệ doanh nghiệp đối với pháp nhân).
- Phạm vi tham gia tố tụng và hậu quả pháp lý khi vượt quá phạm vi:
- Theo Điều 141 BLDS năm 2015, người đại diện thực hiện hành vi trong phạm vi thẩm quyền. Người đại diện không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện, trừ trường hợp luật định.
- Phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự mang tính toàn diện, không bị giới hạn theo loại việc (không bị cấm trong việc ly hôn như đại diện theo ủy quyền).
- Hành vi vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với đương sự và người thực hiện phải bồi thường thiệt hại nếu gây ra thiệt hại cho các bên liên quan.
- Quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện theo pháp luật:
- Quyền và nghĩa vụ chung (Điều 70 BLTTDS năm 2015): Tôn trọng Tòa án; chấp hành nội quy phiên tòa; giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ; đề nghị triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định; đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án; nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí.
- Nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập: Giấy triệu tập tống đạt hợp lệ buộc người đại diện phải có mặt. Nếu nguyên đơn/đại diện nguyên đơn vắng mặt không lý do chính đáng sau nhiều lần triệu tập, Tòa án sẽ đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; nếu bị đơn/đại diện bị đơn vắng mặt sau 02 lần triệu tập hợp lệ, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.
- Quyền và nghĩa vụ theo từng vị trí tố tụng:
- Đại diện của nguyên đơn (Điều 71 BLTTDS năm 2015): Thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần/toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- Đại diện của bị đơn (Điều 72 BLTTDS năm 2015): Nhận thông báo khởi kiện; chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn; đưa ra yêu cầu phản tố hoặc đề nghị đối trừ nghĩa vụ.
- Đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Điều 73 BLTTDS năm 2015): Đưa ra yêu cầu độc lập tham gia cùng nguyên đơn hoặc bị đơn.
- Chấm dứt đại diện theo pháp luật và hậu quả pháp lý:
- Quy định tại Điều 89 BLTTDS năm 2015 dẫn chiếu Điều 140 BLDS năm 2015.
- Đối với cá nhân: Chấm dứt khi người được đại diện đã thành niên (đủ 18 tuổi); người được đại diện được Tòa án tuyên bố khôi phục NLHVDS; hoặc người được đại diện chết. Nếu người đại diện theo pháp luật chết, quan hệ đại diện của đương sự không mặc nhiên chấm dứt mà Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án theo Điều 214 BLTTDS năm 2015 để xác định người đại diện mới.
- Đối với pháp nhân: Chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt tồn tại (hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, bị tuyên bố phá sản theo Điều 96 BLDS năm 2015) hoặc pháp nhân thay đổi người đại diện theo Điều 12 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
- Hậu quả pháp lý (Điều 90 BLTTDS năm 2015): Khi chấm dứt đại diện do đã thành niên hoặc khôi phục NLHVDS, người được đại diện tự mình tiếp tục tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác. Mọi giao dịch do người đại diện xác lập sau thời điểm chấm dứt đại diện đều vô hiệu đối với người được đại diện.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự
Chương 3 tổng kết các kết quả đạt được từ hệ thống pháp luật hiện hành và định hướng các giải pháp hoàn thiện:
- Thực tiễn áp dụng và kết quả đạt được: Hệ thống quy định về đại diện trong BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn so với các văn bản tiền nhiệm (BLDS năm 2005, BLTTDS năm 2004 sửa đổi năm 2011). Pháp luật đã ghi nhận tư cách đại diện của pháp nhân, bổ sung vai trò đại diện theo pháp luật của tổ chức Công đoàn bảo vệ tập thể lao động, minh định các trường hợp chấm dứt và hậu quả pháp lý.
- Những tồn tại, vướng mắc: BLTTDS năm 2015 chưa có quy định trực tiếp, chi tiết về hậu quả pháp lý của hành vi vượt quá phạm vi đại diện trong tố tụng mà phải áp dụng gián tiếp qua quy định của pháp luật dân sự; quy trình Tòa án chỉ định người đại diện cho đương sự trong trường hợp người đại diện đương nhiên có xung đột lợi ích hoặc bị hạn chế quyền đại diện vẫn còn phát sinh lúng túng trong thực tiễn áp dụng.
- Nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Bổ sung các điều khoản quy định cụ thể trong BLTTDS về giới hạn thẩm quyền đại diện và cơ chế xử lý hành vi tố tụng vượt quá phạm vi đại diện;
- Hoàn thiện quy định về trình tự, thủ tục chỉ định người đại diện của Tòa án khi có tranh chấp hoặc khi người đại diện đương nhiên không thể thực hiện nhiệm vụ;
- Tăng cường hướng dẫn áp dụng thống nhất giữa các văn bản pháp luật nội dung (BLDS, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Doanh nghiệp) và BLTTDS.
- Nhóm kiến nghị bảo đảm thực thi: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng xác định tư cách đương sự của Thẩm phán; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân về quyền tiếp cận công lý thông qua người đại diện.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Hệ thống hóa toàn diện các quy định về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam trên cơ sở đối chiếu giữa BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Công đoàn năm 2012.
- Phân tích chi tiết thẩm quyền tố tụng của người đại diện theo từng nhóm đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) và từng nhóm đối tượng được đại diện (người dưới 06 tuổi, từ đủ 06 đến dưới 15 tuổi, từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, người mất/hạn chế NLHVDS, pháp nhân, tập thể lao động).
- Luận giải cơ chế chấm dứt đại diện và hậu quả tố tụng tương ứng (tự tham gia, ủy quyền mới, hoặc Tòa án tạm đình chỉ giải quyết theo Điều 214 BLTTDS năm 2015).
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Khóa luận đề xuất 02 nhóm kiến nghị trọng tâm: (1) Nhóm giải pháp lập pháp nhằm bổ sung quy định trực tiếp về chế tài xử lý hành vi vượt quá phạm vi đại diện trong BLTTDS; (2) Nhóm giải pháp thi hành pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét định tư cách đại diện và trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế.
- Đóng góp của đề tài: Khóa luận làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng trong việc xác lập tư cách người đại diện, cung cấp luận cứ khoa học để phân biệt rành mạch giữa người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của khóa luận: Đề tài chủ yếu tập trung phân tích lý luận quy phạm và tổng hợp các quy định pháp luật thực định của Việt Nam trong phạm vi BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015 trong khung thời gian 05 năm gần đây; dung lượng phân tích án lệ thực tế và số liệu thống kê xét xử cụ thể tại các cấp Tòa án còn ở mức độ khái quát.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng thông qua việc thu thập, phân tích các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp; tiến hành so sánh đối chiếu chuyên sâu về chế định người đại diện theo pháp luật trong pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia theo truyền thống dân luật (Civil Law) và thông luật (Common Law).
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự; người nghiên cứu chuẩn bị đề tài khóa luận, luận văn về chế định chủ thể trong tố tụng dân sự.
- Nội dung giá trị: Các phần phân tích tại Chương 1 (cơ sở khoa học xác lập tư cách đại diện, tiêu chí phân biệt các chủ thể tham gia tố tụng) và Chương 2 (hệ thống hóa quy định về phân chia nhóm tuổi chưa thành niên, điều kiện giám hộ, quyền phản tố và căn cứ chấm dứt đại diện) là nguồn tham khảo có giá trị cao cho việc tra cứu quy phạm và áp dụng pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo BLTTDS năm 2015, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có bắt buộc phải có người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng không?
Căn cứ khoản 6 Điều 69 BLTTDS năm 2015, nếu người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì được tự mình tham gia tố tụng về những việc liên quan đến các quan hệ đó (Tòa án chỉ triệu tập người đại diện khi thấy cần thiết). Đối với các tranh chấp khác ngoài phạm vi này, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng vẫn do người đại diện hợp pháp thực hiện.
2. Khi người đại diện theo pháp luật của đương sự chết trong quá trình giải quyết vụ án, quan hệ đại diện có bị chấm dứt vĩnh viễn không?
Căn cứ Điều 140 BLDS năm 2015 và Điều 214 BLTTDS năm 2015, việc người đại diện theo pháp luật chết không làm chấm dứt tư cách cần được đại diện của đương sự nếu đương sự vẫn là người chưa thành niên hoặc mất/hạn chế NLHVDS. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để xác định người đại diện theo pháp luật mới thay thế.
3. Pháp nhân có thể trở thành người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự không?
Có. Khoản 1 Điều 85 BLTTDS năm 2015 và khoản 1 Điều 134 BLDS năm 2015 quy định rõ người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm cả cá nhân và pháp nhân. Pháp nhân có thể làm người đại diện theo pháp luật (ví dụ: tổ chức được cử làm người giám hộ theo Điều 48 BLDS năm 2015 hoặc tổ chức đại diện tập thể lao động theo khoản 3 Điều 85 BLTTDS năm 2015).
4. Khác biệt lớn nhất về phạm vi tham gia tố tụng giữa người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền là gì?
Người đại diện theo pháp luật có quyền tham gia tố tụng trong mọi loại việc dân sự để bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà không bị hạn chế loại việc. Ngược lại, người đại diện theo ủy quyền bị giới hạn nghiêm ngặt theo nội dung văn bản ủy quyền và theo khoản 4 Điều 85 BLTTDS năm 2015, không được phép đại diện khi đương sự tham gia giải quyết việc ly hôn.
5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thay mặt đương sự thực hiện quyền tố tụng như người đại diện theo pháp luật không?
Không. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tham gia tố tụng với tư cách độc lập, nhân danh chính mình để hỗ trợ về mặt pháp lý cho đương sự và không thay mặt đương sự. Ngược lại, người đại diện theo pháp luật nhân danh chính đương sự, thay mặt đương sự trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Trang Nhung đã phân tích toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự. Công trình làm rõ cơ chế xác lập, phạm vi thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ tố tụng theo từng tư cách đương sự, cũng như căn cứ chấm dứt quan hệ đại diện theo BLTTDS năm 2015 và BLDS năm 2015. Các đánh giá thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất bám sát cấu trúc luật định, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị khoa học cho nghiên cứu và thực hành tư pháp dân sự.