chương 1, nhóm nghiên cứu đã trình bày về lý do lựa chọn và khái quát về dé tài. Bên cạnh đó là nêu lên tổng quan về bài nghiên cứu như đối tượng nghiên cứu, phạm vi, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp thực hiện nghiên cứu và nêu được ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu. Tiếp theo, trong chương 2, nhóm nghiên cứu sẽ trình bày về các giả thuyết, mô hình nghiên cứu gốc của Kim và công sự (2021) để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp hơn với bối cánh tại Việt Nam. Tính chuyên môn Là những kĩ năng, kiến thức được đảo tạo, học tập về một lĩnh vực nào đó biểu hiện mức độ hiểu và thành thạo của người.
Nó cũng đánh giá được độ tin cậy cũng như tính xác xác thực về thông trn mà người nói muốn truyền đạt (Hovland và cộng sự, 1953). Khả năng, kinh nghiệm và năng lực của người có tầm ảnh hưởng khiến người theodõi tin tưởng họ. Điều này có thê được chứng minh bằng một nghiên cứu định tính trướcđây, trong đó người dùng mạng xã hội xem xét năng lực kiến thức hoặc kinh nghiệm củamột nguồn khi theo dõi những người nỗi tiếng trên Instagram (Djafarova & Rushworth,2017; Djafarova & Trofimenko, 2018). Do đó, kiến thức chuyên môn của người có tầm ánh hưởng sẽ dẫn đến sự tin tưởng trong mối quan hệ với người nghe.
Chuyên môn càng cao thì mức độ tin tưởng của người nghe sẽ lớn hơn và làm cơ sở cho những hành động, quyết định sau này. Chuyên môn của một người được nhận biết bằng những yếu tế như: Chất lượng và số lượng của thông tin, năng lực cá nhân, trình độ học vấn, thành tựu chuyên môn và tính xác thực về nhận định của ngwoi ndéi (Giffin, 1967; McGuire, 1968). Khả năng, kinh nghiệm và năng lực của người có tầm ánh hưởng khiến người theo dõi tin tưởng họ. Điều này có thể được chứng minh bằng một nghiên cứu định tính trước đây, trong đó người dùng mạng xã hội xem xét năng lực kiến thức hoặc kinh nghiệm của một nguồn khi theo dõi những người nổi tiếng trên Instagram (Djafarova & Rushworth, 2017; Djafarova & Trofimenko, 2018).
Do đó, kiến thức chuyên môn của người có tầm ảnh hưởng sẽ dẫn đến sự tin tưởng trong mối quan hệ với người nghe. Chuyên môn càng cao thì mức độ tin tưởng của người nghe sẽ lớn hơn và làm cơ sở cho những hành động, quyết định sau này. 16 HI: Chuyên môn của một người có tằm ánh hưởng ảnh hưởng tích cực đến lòng tin đối với người đó. Tính xác thực Trong xã hội học, tính xác thực được định nghĩa là sống thật với chính mình hoặc với người khác (VanninI & Franzese, 2008; Zickmund, 2007), và ngụ ý sự chân thành, trung thực và độc đáo của người nói (Molleda, 2010).
Trong truyền thông tiếp thị, Baker và Martinson (2002) lập luận rằng tính xác thực có thể được xác định bởi “liệu người hành nghẻ có sẵn sàng công khai, và được xác định cá nhân là người thuyết phục hay không” (Baker & Martinson, 2002, trang 17). Trong tiếp thị truyền thông xã hội, tính xác thực tương ứng với ý định thực sự của người có ảnh hưởng khi họ có thể đăng và giới thiệu bất kỳ sản phâm/dịch vụ nào để nhận được khoản thù lao từ những người thuê họ (Boerman và cộng sự, 2017; Evans và cộng sự, 2017). Từ những lập luận kẻ trên có thể đưa ra được giá thuyết đó là tính xác thực của những người có ánh hưởng trên mạng xã hội cũng dẫn đến sự tin cậy trong mỗi quan hệ với người tiếp nhận thông tin. H2: Tính xác thực của một người có tầm ảnh hưởng ảnh hưởng tích cực đến sự tin tưởng vào chính người đó.
Sự thu hit ly tinh Sự thu hút lý tính được quan niệm là các cá nhân có những tác động về mặt vật lý ảnh hưởng đến khá năng tiếp nhận ban đầu đến người tiếp nhận thông tin (Dion và cộng sự, 1972). Điểm thu hút này sẽ được nhận diện từ người ảnh hưởng về mặt vật lý qua các đặc điểm và phẩm chất như sự tốt bụng, thú vị, hòa đồng, mạnh mẽ, khiêm tốn và sự nhạy bén xuất phát từ người nói (Dion va cộng sự, 1972). 17 Khi điểm thu hút lý tính từ những người có tầm ánh hưởng sở hữu những đặc điểm như hòa đồng, nhạy bén hay khiêm tốn sẽ có thể khiến các thông tin trong quá trình truyền tải có thé trở nên đầy đủ và hợp lý khi đến tai người theo đõi nhằm nâng cao uy tín cho những người ảnh hưởng, tăng sự tin tưởng và để dàng tiếp nhận cho người nghe (Dipboye và cộng sự, 1977). H3: Sự thu hút lý tính của người có tầm ảnh hưởng tác động tích cực đến chính sự tin tưởng dành cho người có ảnh hưởng đó.
Sự tương đồng nhận thức Sự tương đồng nhận thức được hiểu là những điểm chung giữa những người ảnh hưởng và người tiếp nhận thông tin về những yếu tổ trong đời sông như niềm tin, giá trị, kinh nghiệm và lối sống (Gilly va cộng su, 1998; Lazarsfeld & Merton, 1954). Theo Gerard & Greenbaum, (1962); Simons va cong sự, (1970) thì sự tương đồng này có thê được tạo ra từ các biểu hiện về thái độ, sở thích, niềm tin và cảm xúc của ngwoi giao tiép. Khi có sự tương tự như trên sé dẫn dắt cho người nghe dé dàng tiếp nhận thông tín. Khi người có tầm ánh hưởng thể hiện được sự tương đồng trong nhận thức với người nghe có thê tạo được án tượng trong giao tiếp khi có cùng giá trị với nhau, khiến cho lời nói được nhất quán với lập luận đến tai người nghe từ đó gia tăng giá trị tin tưởng cho chính người ánh hưởng (Simons và cộng sự, 1970).
H4: Sự tương đồng nhận thức dành cho người có ảnh hưởng tác động tích cực đến sự tin tưởng vào người có ảnh hưởng. Long tin “Lòng tin được định nghĩa như là sự tín tưởng vào độ tin cậy và sự chính trực của đối tác” (Morgan & Hunt, 1994, trang. Theo tir dién Oxford, lòng tin (Trust) con được hiểu là niềm 18 tin vào một sự việc/một người tốt, chân thành, trung thực, v.v, và sẽ không lừa gạt hay làm hại người khác. Lồng tin có thể được xây dựng khi đối phương thực hiện những lời hứa của họ (Gronroos, 1990), được cầu thành từ 4 yếu tố, cụ thể là: Sự tin tưởng của người theo dõi đối với người có tầm ảnh hưởng, độ tin cậy của người có tầm ảnh hưởng, sự chính trực của người có tầm ảnh hưởng, sự tự nguyện của người theo dõi.
Thông qua các tương tác liên tục trên Internet, mối quan hệ giữa người có tầm ảnh hưởng và người theo dõi xuất hiện lòng tin. Người theo dõi có thể dự đoán và đánh giá được những giá trị mà người có tầm ánh hưởng mang lại trong tương lai. Từ đó, cả hai bên sẽ duy trì được mối quan hệ đôi bên có lợi (Gassenheimer và cộng sy, 1998; Mayer và cộng sự, 1995; Sirdeshmukh va cộng sự, 2002). Lòng tin đóng vai trò là biến trung gian, kết nối “những đặc điểm của người có sức ảnh hưởng” và “kết quá của chiến địch Marketing”.
Người có tằm ảnh hưởng nên biết cách mở rộng kiến thức chuyên môn về những sản phẩm họ quảng cáo, nâng cao tính xác thực của thông tin họ truyền tải và cải thiện vẻ bề ngoài của họ. Những điều trên sẽ xây dựng một lòng tin vững chắc trong tâm thức của người theo dõi. Từ đó, những chiến dịch quảng cáo sẽ đạt hiệu quá tốt vì họ đã tác động đến thái độ cũng như ý định mua hàng của người theo dõi. Bên cạnh đó, họ sẽ có được sự trung thành của người theo dõi và những chiến dịch quảng cáo sau này sẽ đạt được thành công.
H5: Niềm tin có sự tác động tích cực đến lòng trung thành đối với những người có tam anh hưởng. H6: Niềm tin có sự tác động tích cực đến thái độ đối với sản phẩm. H7: Niềm tin có sự tác động tích cực đến ý định mua hàng. Lòng trung thành đối với người có tầm ảnh hưởng Sự tin tưởng của những người theo dõi đối với người có ảnh hưởng dựa trên các mô hình độ tin cậy và nguồn gốc của mức độ hấp dẫn được tích hợp toàn điện dé xác định các động lực của niềm tin quan hệ.
Từ đó, dẫn đến việc người theo đõi sẽ quyết định tiếp tục theo đõi người có tầm ảnh hưởng dài lâu (ví dụ: tôi sẽ tiếp tục theo dõi người có sức ảnh hưởng) (Parasuraman, 2005). Khi lòng tin của người theo dõi phát triển mạnh mẽ sẽ dẫn đến kết qua là lòng trung thành của họ dành cho người có tầm ảnh hưởng. Tác động của lòng tin sẽ xây dựng nên lòng trung thành mạnh mẽ trong một mối quan hệ sâu sắc. Khi những người theo dõi có nhiều thời gian hơn so với người có sức ảnh hưởng, lòng tin của họ sẽ nâng cao lòng trung thành của họ đối với người có ảnh hưởng.
Do đó, sự tin tưởng sẽ có tác động nhiều hơn đến những người có tằm ánh hưởng, những người xây dựng mối quan hệ sâu sắc với người theo dõi. H5: Niềm tin có sự tác động tích cực đến lòng trung thành đối với những người có tam anh hưởng. Thái độ sản phẩm Filieri & McLeay (2014) dé cập rang thái độ là việc quan sát cụ thể một vấn đẻ nào đó để đưa ra đánh giá và thê hiện trạng thái thích hay không thích, cảm xúc và ý kiến sẽ được hình thành dựa trên việc đánh giá các vấn đẻ từ đó có thê đưa ra những đánh giá lâu bên, ôn định hay ưu tiên về một sản phẩm. Ngoài việc thể hiện sự đánh gia va cam xúc tích cực hay tiêu cực, thái độ cũng phản ánh ý định về hành động của sự đồng ý hoặc không đồng ý (Lin và cộng sự, 2012).
20 Pound Pongpaiboon & Arakvichanun (2014) định nghĩa rằng thái độ có thể được học; đối với một đối tượng cụ thể, có thể vận dụng những kiến thức đã học được tạo ra một phản ứng bền bỉ cho những tiêu chuẩn của cá nhân về việc thích hay không thích, đúng hay sai. Fotis va céng sw, (2012) đã chỉ ra rằng thái độ đối với sản phẩm như thể là một ý tưởng nhất quán của người tiêu dùng đối với thương hiệu để đưa ra lựa chọn cuối cùng bằng cách đánh giá từng sản phẩm trong quá trình mua sản phẩm. Thái độ sán phẩm là một sở thích của người tiêu dùng đối với một sản phẩm/ thương hiệu và điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyết định mua sản phâm của người tiêu đùng.