Tổng quan nghiên cứu

Xã Quảng Sơn thuộc huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông là địa bàn miền núi đặc biệt khó khăn, được thành lập theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP của Chính phủ với diện tích tự nhiên rộng lớn hơn 45.000 ha. Đây là không gian sinh sống đan xen của 22 dân tộc anh em với quy mô 5.281 hộ dân, trong đó đồng bào M’Nông bản địa có 688 hộ với 3.235 nhân khẩu, chiếm tỷ lệ 13,3% dân số toàn xã. Trước tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa và giao lưu văn hóa đa chiều, các giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi của người M’Nông như không gian văn hóa cồng chiêng, kho tàng sử thi Ot Ndrong, trang phục thổ cẩm, kiến trúc nhà trệt và luật tục mẫu hệ đang đứng trước nguy cơ mai một, lai tạp và biến đổi sâu sắc.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy tối đa vai trò lãnh đạo, quản lý của các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở nhằm ngăn chặn đà suy giảm di sản và phục hồi bản sắc dân tộc. Luận văn xác định mục tiêu làm rõ các vấn đề lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở, khảo sát toàn diện thực trạng văn hóa M’Nông tại 13 thôn và bon trên địa bàn xã Quảng Sơn, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nâng cao năng lực quản trị văn hóa của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các tổ chức đoàn thể. Về phạm vi không gian và thời gian, nghiên cứu tập trung phân tích thực địa tại xã Quảng Sơn giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và định tính chuẩn xác, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ hộ gia đình M’Nông duy trì nghề dệt thổ cẩm và đan lát truyền thống lên trên 30%, khôi phục 100% các lễ hội nông nghiệp tiêu biểu và giảm thiểu tỷ lệ vi phạm luật tục lạc hậu xuống dưới mức 5% tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và vấn đề dân tộc, khẳng định văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu vận dụng đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt từ Đề cương văn hóa năm 1943, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đến Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI năm 2014 về phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Khung lý thuyết của đề tài tích hợp 4 khái niệm khoa học trọng tâm:

  1. Văn hóa: Phức hệ tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình thực tiễn, định hình lối sống và thế giới quan cộng đồng theo chuẩn mực chân - thiện - mỹ.
  2. Bản sắc văn hóa dân tộc: Những nét đặc trưng, cốt lõi và bền vững nhất tạo nên diện mạo tinh thần riêng biệt, giúp nhận diện và phân biệt một tộc người với các cộng đồng khác; đối với người M’Nông, bản sắc ấy kết tinh qua tính cộng đồng cao, không gian lễ hội nông nghiệp và kho tàng di sản cồng chiêng.
  3. Dân tộc thiểu số: Được xác định căn cứ theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ, chỉ các cộng đồng có quy mô dân số ít hơn so với dân tộc đa số trên lãnh thổ Việt Nam.
  4. Hệ thống chính trị cơ sở: Chỉnh thể thống nhất bao gồm tổ chức Đảng ủy lãnh đạo, Hội đồng nhân dân giám sát, Ủy ban nhân dân quản lý, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã giữ vai trò nòng cốt trong việc tổ chức thực thi pháp luật và bảo tồn di sản.

Khung pháp lý nghiên cứu còn dựa trên Điều 5 và Điều 60 Hiến pháp năm 2013, Luật Di sản văn hóa năm 2001 sửa đổi bổ sung năm 2009, Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg, Quyết định số 2356/QĐ-TTg và Quyết định số 936/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình mục tiêu phát triển văn hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn triển khai khảo sát thực địa với cỡ mẫu 150 phiếu điều tra bảng hỏi và 25 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân. Đối tượng điều tra được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích tại 7 bon thuần đồng bào M’Nông gồm bon Nting, bon SaNar, bon R’Bút, bon Phi Glê, bon BuSir, bon Rlong Phe và bon Nđoh. Cấu trúc mẫu bảo đảm tính đại diện cao cho 9 tổ chức trong hệ thống chính trị xã, 13 già làng và trưởng bon, cùng hai nhóm tôn giáo chính là Công giáo với 989 nhân khẩu và Tin lành với 1.578 nhân khẩu, cân đối tỷ lệ giới tính gồm 53% nữ giới và 47% nam giới.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp định tính và định lượng nhằm kiểm chứng chéo số liệu thống kê hành chính từ Ủy ban nhân dân xã với mức độ nhận thức thực tế của người dân. Các phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp, quan sát tham dự tại các nghi lễ đâm trâu, mừng lúa mới và phỏng vấn hồi cố nghệ nhân dân gian được ứng dụng triệt để. Timeline nghiên cứu được thực hiện liên tục từ khâu điền dã năm 2016 đến năm 2018, tổng hợp và xử lý dữ liệu hoàn thiện giai đoạn 2019-2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu dân cư và sinh hoạt tôn giáo của người M’Nông tại xã Quảng Sơn có sự chuyển biến mạnh mẽ. Toàn xã hiện có 688 hộ với 3.235 nhân khẩu M’Nông, trong đó có tới 532 hộ với 2.567 nhân khẩu chuyển sang theo hai tôn giáo mới là đạo Tin lành (325 hộ, 1.578 khẩu) và đạo Thiên chúa (207 hộ, 989 khẩu), chiếm tỷ lệ áp đảo 79,35% tổng số nhân khẩu M’Nông. Sự thay đổi này trực tiếp làm suy giảm các nghi lễ tín ngưỡng đa thần và thế giới quan vạn vật hữu linh truyền thống.

Thứ hai, không gian văn hóa vật thể và phi vật thể đang bị thu hẹp báo động. Trang phục truyền thống hiện chỉ còn khoảng 12% người cao tuổi trên 50 tuổi sử dụng thường xuyên, trong khi hơn 85% thanh thiếu niên đã chuyển sang mặc âu phục hiện đại. Kho tàng 24 tác phẩm sử thi Ot Ndrong kinh điển như Cướp Chiêng Cổ Bon Tiăng, Lêng Nghịch Đá Thần Của Yang, Tiăng Cướp Djăn Dje có nguy cơ thất truyền khi số nghệ nhân ghi nhớ vạn câu hát kể chỉ còn dưới 5 người trên toàn xã.

Thứ ba, sự thâm nhập của các yếu tố ngoại lai dẫn đến tình trạng lai tạp di sản. Trong nhiều sự kiện giao lưu văn hóa, nghi thức đón bạn mộc mạc của người M’Nông bị pha tạp bởi hình thức rước kiệu 4 người của các tộc người phía Bắc; các tiết mục dân vũ bị hiện đại hóa với tiết tấu dồn dập, làm mất đi nét uyển chuyển, trầm bổng vốn có của nhịp chiêng và tiếng kèn R’lét nguyên bản.

Thứ tư, các rào cản xã hội và tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại. Trẻ em dưới độ tuổi lao động chiếm 24,66% (798 người) gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận chữ viết và tiếng mẹ đẻ do thiếu chương trình giáo dục song ngữ. Đồng thời, tỷ lệ tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trong phạm vi 3 đời vẫn còn ghi nhận từ 4% đến 6% số trường hợp kết hôn tại các bon vùng sâu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của thực trạng trên bắt nguồn từ áp lực chuyển đổi sinh kế khi đồng bào chuyển từ canh tác nương rẫy truyền thống sang trồng cây công nghiệp như cà phê, tiêu và cao su, làm thay đổi cấu trúc nông lịch cổ truyền. Bên cạnh đó, sự tiếp biến văn hóa diễn ra phức tạp khi 21 dân tộc khác cùng sinh sống xen kẽ, điển hình như dân tộc Kinh chiếm 60,8%, dân tộc Nùng chiếm 5,98%, Tày chiếm 5,47%, Dao chiếm 5,02% và Mông chiếm 4,16%.

Đánh giá vai trò của hệ thống chính trị địa phương cho thấy Đảng ủy xã Quảng Sơn đã kịp thời ban hành Chương trình hành động số 28-CTr/ĐU và số 39-CTr/ĐU, Ủy ban nhân dân xã đã triển khai các kế hoạch bảo tồn cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc. Tuy nhiên, sự gắn kết giữa bộ máy chính quyền với mạng lưới 13 già làng, trưởng bon còn mang tính hành chính hóa, nguồn ngân sách đầu tư cho thiết chế văn hóa cơ sở chưa tương xứng với diện tích tự nhiên 45.000 ha.

Dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột phân tầng thể hiện mức độ suy giảm việc sử dụng trang phục và tiếng nói M’Nông theo 3 nhóm tuổi (dưới 18 tuổi, 18 đến 35 tuổi, và trên 50 tuổi). Đồng thời, một bảng ma trận so sánh mức độ đáp ứng của 9 tổ chức đoàn thể xã trong việc bảo tồn văn hóa vật thể và phi vật thể sẽ làm nổi bật khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và hiệu quả triển khai thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Nâng cao năng lực chỉ đạo của cấp ủy Đảng: Đảng ủy xã Quảng Sơn cần ban hành Nghị quyết chuyên đề giai đoạn 2021-2025 về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc M’Nông; định kỳ 6 tháng một lần tổ chức hội nghị chuyên đề giữa Thường trực Đảng ủy với 100% già làng, trưởng bon và bí thư chi bộ 13 thôn/bon để kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quản lý văn hóa cơ sở.
  2. Phát huy vai trò của thiết chế già làng và người có uy tín: Ủy ban nhân dân xã phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xây dựng quy chế phối hợp và chính sách hỗ trợ kinh phí hoạt động hàng tháng cho 13 già làng, trưởng bon; giao chỉ tiêu tuyên truyền vận động nhằm xóa bỏ triệt để 100% tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết và nâng tỷ lệ chấp hành quy ước bon làng lên trên 95%.
  3. Đầu tư ngân sách xây dựng thiết chế văn hóa và đào tạo truyền dạy: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Đắk Glong cùng Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn dành tối thiểu 15% nguồn chi sự nghiệp văn hóa hàng năm để trùng tu nhà sinh hoạt cộng đồng tại 7 bon M’Nông; tổ chức định kỳ 2 lớp truyền dạy đánh cồng chiêng và 1 lớp hát kể sử thi Ot Ndrong mỗi năm, thu hút ít nhất 50 đoàn viên, thanh thiếu niên tham gia.
  4. Gắn kết bảo tồn văn hóa với phát triển kinh tế du lịch cộng đồng: Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ xã chủ trì thành lập 2 hợp tác xã dệt thổ cẩm và đan lát mây tre truyền thống tại bon Nting và bon SaNar; phối hợp với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn khai thác tour du lịch trải nghiệm văn hóa gắn với danh thắng thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4, phấn đấu nâng thu nhập bình quân của các hộ tham gia thêm 20% đến 25% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ lãnh đạo, công chức trong hệ thống chính trị cơ sở và cơ quan quản lý văn hóa, công tác dân tộc: Cung cấp hệ thống giải pháp quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp giữa chính quyền cơ sở với thiết chế già làng, trưởng thôn trong xử lý các vấn đề văn hóa - xã hội đặc thù vùng Tây Nguyên.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính trị học, Dân tộc học và Quản lý văn hóa: Tài liệu tham khảo học thuật giá trị với khung phân tích 4 nhóm thiết chế chính trị cùng kho tư liệu điền dã phong phú về văn hóa tộc người M’Nông.
  3. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và tổ chức phát triển cộng đồng: Cung cấp bộ số liệu thực chứng về 688 hộ M’Nông và cơ cấu 79,35% đồng bào theo tôn giáo mới, làm căn cứ thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và bảo tồn di sản.
  4. Nghệ nhân, già làng và những cá nhân tâm huyết với di sản Tây Nguyên: Tài liệu hữu ích giúp tra cứu danh mục 24 tác phẩm sử thi Ot Ndrong tiêu biểu và nhận diện các nguy cơ lai tạp văn hóa để chủ động trao truyền tri thức bản địa cho thế hệ tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Tính cộng đồng của người M’Nông tại xã Quảng Sơn biểu hiện qua những khía cạnh nào? Tính cộng đồng được thể hiện qua 4 khía cạnh: sự phục tùng uy tín tuyệt đối của già làng (làm trái bị phạt 1 con heo và 1 ché rượu cần), tinh thần tương trợ trong lao động và ma chay cưới hỏi (chia sẻ sản phẩm cho 100% hộ trong bon), việc thực thi nghiêm ngặt luật tục dòng họ mẫu hệ, và tinh thần đoàn kết toàn dân tham gia bảo vệ buôn làng.

Hệ thống chính trị xã Quảng Sơn gồm những cơ quan nào tham gia giữ gìn văn hóa? Hệ thống chính trị xã Quảng Sơn gồm 9 thiết chế nòng cốt: Đảng ủy xã, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Công đoàn xã, cùng mạng lời chi bộ trực thuộc và Ban tự quản tại 13 thôn/bon liên kết chặt chẽ với các già làng.

Tỷ lệ tín đồ tôn giáo trong cộng đồng M’Nông tác động như thế nào đến bảo tồn văn hóa? Hiện có 532 hộ với 2.567 nhân khẩu M’Nông theo đạo Tin lành và Công giáo (chiếm 79,35% dân số M’Nông). Sự thay đổi này đòi hỏi hệ thống chính trị phải đổi mới phương thức vận động, khéo léo lồng ghép sinh hoạt tôn giáo thuần túy với việc bảo tồn không gian cồng chiêng và lễ hội mừng lúa mới truyền thống.

Những biểu hiện lai tạp bản sắc văn hóa M’Nông tại địa phương hiện nay là gì? Khảo sát thực địa chỉ ra 3 biểu hiện rõ nét: việc đưa kiệu rước của các dân tộc phía Bắc vào nghi thức đón bạn truyền thống, sử dụng âm thanh nhạc cụ hiện đại bốc lửa lấn át giai điệu trầm bổng của tù và kèn R’lét, và việc dùng gam màu đỏ - vàng không đúng quy chuẩn thay cho sắc xanh - đen nguyên bản trên trang phục thổ cẩm.

Luận văn đề xuất giải pháp gì để đẩy lùi hủ tục tảo hôn và hôn nhân cận huyết? Nghiên cứu kiến nghị phát huy vai trò răn đe của luật tục do 13 già làng chủ trì kết hợp phổ biến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đồng thời đưa tiêu chí không có tảo hôn (hiện ở mức 4% đến 6%) vào bình xét danh hiệu Gia đình văn hóa và Bon văn hóa hàng năm tại 7 bon đồng bào.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về vai trò của hệ thống chính trị cơ sở đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa của 3.235 người M’Nông tại xã Quảng Sơn.
  • Đánh giá trung thực thực trạng văn hóa tại 13 thôn/bon, chỉ rõ nguy cơ mai một của 24 tác phẩm sử thi Ot Ndrong và sự biến đổi trong kiến trúc, trang phục truyền thống.
  • Phân tích sâu sắc sự chuyển dịch xã hội khi 79,35% đồng bào chuyển sang theo đạo Tin lành và Công giáo, đặt ra yêu cầu mới cho công tác quản trị văn hóa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp quyền lực lãnh đạo của Đảng ủy, hiệu lực quản lý của Ủy ban nhân dân với uy tín của 13 già làng, trưởng bon.
  • Thiết lập lộ trình hành động gắn bảo tồn di sản với phát triển chuỗi giá trị du lịch cộng đồng hồ thủy điện Đồng Nai 3 và Đồng Nai 4 giai đoạn 2021-2025.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp luận cứ khoa học và giải pháp chính trị học thực tiễn giúp cấp ủy, chính quyền địa phương hoàn thiện quy chế phối hợp quản lý văn hóa cơ sở ngay trong quý IV/2021 và triển khai các lớp truyền dạy di sản từ năm 2022. Đây là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và những ai quan tâm đến sự phát triển bền vững của văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.