phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CON NGƢỜI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái niệm nhân tố con ngƣời và phát triển bền vững 1. Khái niệm nhân tố con người Xuất phát từ con người hiện thực, chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng: con người là tổng thể các yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội cấu thành nên; con người là chủ thể sáng tạo ra mọi quá trình lịch sử xã hội.
Những quan điểm này, đã đặt cơ sở phương pháp luận cho việc tiếp cận và nghiên cứu nhân tố con người. Theo quan điểm Mác xít, con người được coi là sản phẩm tiến hóa lâu dài từ tự nhiên, là bộ phận của giới tự nhiên. Con người khác các loài vật khác ở chỗ con người biết lao động. Chính lao động đã đảm bảo và duy trì cuộc sống sinh vật của con người và làm biến đổi hàng loạt bản tính tự nhiên sinh học của con người.
Cũng chính lao động cũng hình thành nên những thuộc tính xã hội của con người như: có ngôn ngữ, có ý thức, tư duy, giao tiếp… hình thành nên các mối quan hệ xã hội như: kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học, văn hóa… Hơn nữa, con người thông qua hoạt động lao động sản xuất đã tạo nên của cải vật chất, tinh thần cho xã hội, cho nên có thể nói nhân tố con người là nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự tồn tại lâu dài của một xã hội nhất định. Trong khi bàn về sản xuất, C. Mác phân biệt hai loại nhân tố vật và nhân tố người “Những nhân tố vật, hay tư liệu sản xuất và nhân tố người, hay sức lao động” [41, 276], “ Chúng tôi hiểu sức lao động (hay năng lực lao động) là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất một giá trị sử dụng nào đó” [41, 251]. Như vậy, theo C.
Mác, chính “lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [42, 641]. Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, vai trò quyết định của nhân tố con người ngày càng được khẳng định. Đó cũng chính là lý do mà nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng như Việt Nam quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Do xuất phát từ các góc độ, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu khác nhau nên có nhiều quan điểm khác nhau về nhân tố con người.
Ở Việt Nam trong những năm qua, một số quan điểm về nhân tố con người chẳng hạn: “Nhân tố con người với tư cách là một phạm trù triết học xã hội (gắn liền với thực tiễn), nói lên vai trò, vị trí và những ảnh hưởng của con người trong hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo thế giới hiện thực, đồng thời tự biểu hiện, tự khẳng định những sức mạnh tiềm năng của bản thân con người trong quá trình phát triển và hoàn thiện bản chất xã hội của nó” [50, 32]. Hay “Nhân tố con người là một hiện tượng nhiều mặt và phức tạp, liên quan đến toàn bộ các hoạt động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [76, 30].S Phạm Công Nhất, “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào thực tiễn sản xuất vật chất hay trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [49, 25]. Kế thừa và tiếp thu chọn lọc các quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Nói đến nhân tố con người là nói đến vai trò chủ thể của con người trong quá trình phát triển và biến đổi xã hội. Qua đó, thể hiện rõ nhân tố con 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người là tổng hòa những năng lực, phẩm chất của con người được khai thác và sử dụng cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Vai trò chủ thể của con người (với tư cách là cá nhân hay cộng đồng) được thể hiện ở tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của con người trong hoạt động thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vai trò đó phục thuộc vào mức độ và khả năng ý thức, nhận thức và ý chí của con người trong hoạt động thực tiễn. Trước hết, nhân tố con người được xem xét chủ yếu dưới góc độ lực lượng lao động sản xuất chính của xã hội. Trong quá trình sản xuất, nhân tố con người là “đầu vào” trực tiếp, đồng thời nhân tố con người cũng là “đầu ra” của quá trình đó, bởi vì mục đích cuối cùng của mọi sự phát triển là hướng đến phục vụ nhu cầu, lợi ích con người.
Hoạt động lao động của con người trên một ý nghĩa nào đó không chỉ tạo ra mọi của cải xã hội mà còn góp phần cải tạo chính bản thân mình. Nhân tố con người không chỉ được xem xét dưới góc độ là lực lượng sản xuất chính mà còn được xem xét dưới góc độ nhân cách xã hội, đòi hỏi chúng ta nhìn nhận con người với tư cách là chủ thể của những hoạt động có ý thức, hoạt động sáng tạo của con người. Ở bình diện nhân cách, nhân tố con người thể hiện qua các chức năng và giá trị xã hội. Nhân cách của con người bao gồm những phẩm chất, năng lực của cá nhân được hình thành, phát triển và hiện thực hóa trong quá trình thực hiện chức năng xã hội nhất định.
Nhờ có phẩm chất, năng lực con người với có khả năng thực hiện được chức năng xã hội, sáng tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần. Đến lượt mình các giá trị văn hóa đó lại trở thành tiền đề, điều kiện để con người tự hoàn thiện bản thân, tiếp tục sáng tạo ra giá trị văn hóa, giá trị nhân cách mới. Trong quá trình vận động và phát triển đó con người chính là sự kết tinh của những giá trị văn hóa và là chủ thể mang giá trị văn hóa cao nhất. Bởi vậy, trong chiến lược phát triển, ngoài tập trung phát triển kinh tế, giữ ổn định xã hội, việc xây dựng văn 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hóa và định hướng nhân cách giữ vị trí quan trọng, nhằm phát huy tối đa vai trò nhân tố con người cho sự phát triển bền vững và không ngừng nâng cao vai trò chủ thể của con người.
Tóm lại, nhân tố con người với tư cách là tổng hòa các năng lực, phẩm chất kết hợp với hoạt động lao động tạo thành một bộ chỉnh thể thống nhất là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Cần biết sử dụng và khai thác một cách hợp lý những năng lực, phẩm chất vốn có của con người mới đáp ứng kịp thời yêu cầu đã đặt ra của chiến lược phát triển bền vững. Vai trò của nhân tố con người được hiện thực hóa khi con người tham gia vào hoạt động thực tiễn, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng. Đặc biệt phát triển kinh tế cần quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo cho con người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, và phát triển một cách toàn diện.
Nhân tố con người được xem xét thông qua các tiêu chí bao gồm: thể lực, trí lực và đạo đức. Thể lực là năng lực thể chất của con người, đây là tiêu chí khá quan trọng về chất lượng nhân tố con người, thường bao gồm tiêu chí về tình trạng sức khỏe của con người như: chiều cao, cân nặng, bệnh tật, tuổi thọ, trạng thái thoải mãi về tinh thần cũng như thể chất và xã hội của con người. Trí lực biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực, tinh thần, thái độ, tác phong làm việc. đây là một tiêu chí có vai trò quan trọng trong đánh giá chất lượng nhân tố con người.
Đạo đức biểu hiện thông qua hệ thống những giá trị và chuẩn mực. Những giá trị, chuẩn mực đó phản ánh bản chất xã hội, lý tưởng đạo đức mà xã hội vươn tới, được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nếp sống hàng ngày. Các 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách của cá nhân, của chất lượng nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội. * Đặc trưng nhân tố con người Việt Nam Khi xem xét vai trò của nhân tố con người với tư cách là lực lượng sản xuất, thì nhân tố con người được xem xét dưới khía cạnh nguồn nhân lực, bao gồm những tiêu chí về thể lực, trí lực, đạo đức.
Hơn nữa, trong giới hạn của luận văn, khi nghiên cứu về nhân tố con người, luận văn tập trung vào đối tượng người lao động. Người lao động là những người có tri thức, kinh nghiệp và kỹ năng lao động, có sức khỏe để tiến hành hoạt động lao động nhằm thực hiện những nhu cầu, đáp ứng những lợi ích cho mình và toàn thể xã hội. Cho nên, người lao động là lực lượng cơ bản, chủ yếu cho mọi quá trình vận động và phát triển. Về mặt thể lực, tầm vóc người Việt đã có những bước phát triển rõ rệt về chiều cao, cân nặng.
Những năm gần đây, người Việt Nam nói chung, đặc biệt là lực lượng người lao động nói riêng được chăm sóc sức khỏe tốt, đem lại hiệu quả công việc và năng xuất lao động cao hơn. Tuy nhiên, cũng có thể thấy các yếu tố tác động từ môi trường sống, môi trường làm việc, cũng đang ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Về mặt trí lực, hiện nay trình độ học vấn và dân trí ở nước ta được nâng cao nhờ phát triển mạnh nền giáo dục như là quốc sách hàng đầu.