ĐẶT VẤN ĐỀ Các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vƣờn quốc gia (VQG) có vai trò quan trọng để bảo vệ và duy trì tính đa dạng sinh học đặc biệt là trong việc bảo tồn nguồn gen, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kết hợp với việc bảo vệ các tài nguyên văn hoá và mang lại lợi ích cho con ngƣời. Hiện nay các Khu bảo tồn đã và đang gặp rất nhiều khó khăn từ phía cộng đồng địa phƣơng, đặc biệt đối với những nƣớc đang phát triển trong những năm gần đây nguồn tài nguyên này đang bị suy thoái mạnh, do rất nhiều nguyên nhân tác động làm ảnh hƣởng nghiêm trọng. Nhiều nƣớc có nguồn tài nguyên tự nhiên rất giàu có nhƣng đang bị suy giảm, ví dụ: rừng nhiệt đới Amazon bao bọc toàn bộ lƣu vực con sông Amazon ở Nam Mỹ, là “lá phổi xanh của Trái Đất, hơn một nửa diện tích rừng s bị tàn phá nặng nề hoặc có thể biến mất vào năm 2030 do biến đổi khí hậu và nạn chặt phá rừng, ngoài ra việc ngƣời dân phát quang rừng để canh tác s phát thải một lƣợng khí CO2 tƣơng đƣơng với tổng khối lƣợng khí thải trên toàn cầu trong vòng hơn 2 năm; rừng Bulô tại Siberia của nƣớc Nga, đang bị khai phá và chịu nhiều tác động của ngƣời dân sống xung quanh khu rừng này. Không chỉ trên thế giới mà Việt Nam cũng là một trong những nƣớc nằm trong sự suy giảm nghiêm trọng đó.
Nguyên nhân chính dẫn tới hiện trạng suy thoái này là bị thu h p bởi mở rộng các khu định cƣ cho con ngƣời, cũng nhƣ phát quang đất khai thác nông nghiệp của các cộng đồng địa phƣơng xung quanh. Sơn La là một trong các tỉnh của khu Tây Bắc, với diện tích rừng tự nhiên khoảng 440.000 ha, tại đây đã thành lập 4 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) gồm: Sốp Cộp, Xuân Nha, Tà Xùa và Copia. Trong đó KBTTN Sốp Cộp nằm ở phía Tây của tỉnh; đƣợc thành lập năm 2002 với diện tích 2 18.709 ha thuộc hai huyện Sốp Cộp và Sông Mã. KBTTN Sốp Cộp thuộc hai xã Sốp Cộp ( huyện Sốp Cộp) và Huổi Một (huyện Sông Mã) là 1 phần 4 các xã khác là Púng Bánh, Dồm Cang (huyện Sốp Cộp) và Nặm Mằn, Mƣờng Cai (huyện Sông Mã) tỉnh Sơn La Tọa độ địa lý: từ 20055 30’’ đến 21004’’00’’ vĩ độ Bắc từ 103027’’00’’ đến 103043’’00’ kinh độ Đông.
Địa hình bị chia cắt mạnh, nhiều đồi núi cao trên 1000 m, độn dốc lớn, nhiều suối chia cắt, nằm hoàn toàn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình là 22,40 C, lƣợng mƣa trung bình năm 1. Độ ẩm không khí ở mức trung bình (82%), với nhiệm vụ chủ yếu là: Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, quần thể của các loài động thực vật quý hiếm, các loài đang bị đe doạ và các loài đặc hữu; phục hồi, tái tạo vốn rừng nhằm nâng cao độ che phủ của rừng. KBTTN Sốp Cộp không những có giá trị cao về đa dạng sinh học, về sinh thái, môi trƣờng mà trong trƣơng lai còn có ý nghĩa về du lịch sinh thái, phục vụ tham quan, học tập nghiên cứu. Với thành phần dân tộc chủ yếu là Thái, Mông, Khơ Mú với những tập quán truyền thống nhƣ canh tác nƣơng rẫy, du canh du cƣ, săn bắn động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lƣợm các sản phẩm từ rừng.
Đời sống của ngƣời dân địa phƣơng phần lớn dựa vào chính là nguồn tài nguyên rừng. Từ những thực tế trên cho thấy việc đánh giá đƣợc vai trò của cộng đồng, đồng thời quản lý, bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng (TNR) và đảm bảo đời sống của ngƣời dân sống ở gần và trong khu bảo tồn (KBT) là vấn đề cấp thiết. Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá vai trò của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp, tỉnh Sơn La”. Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong quản lý rừng của cộng đồng tại khu vực nghiên cứu và góp phần làm cơ sở xây dựng các chƣơng trình tuyên truyền giáo dục bảo tồn tại địa phƣơng.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình bảo tồn và quản lý rừng trên thế giới Để hạn chế suy thoái tài nguyên nhiên, bảo tồn loài, quần thể và quần xã, hệ sinh thái cho thế hệ mai sau và duy trì sự tồn vong của Trái đất, con ngƣời đã có những nỗ lực trong công tác bảo tồn bằng những hành động hiệu quả nhƣ thực hiện “Mục tiêu thiên niên kỷ”, hành động cho các điểm nóng “hotspot” về đa dạng sinh học thuộc Global 200 ( WWF – Global 200, 1997). Nỗ lực mạnh m nhất và đƣợc đánh giá thành công nhất trong nhiều thập kỷ qua là việc xây dựng hệ thống các KBT bảo tồn loài, bảo tồn hệ sinh thái, nâng cao nhận thức cộng đồng, tạo sinh kế, bảo vệ rừng. Bên cạnh ảnh hƣởng tích cực của việc xây dựng các KBT và các VQG đến hệ sinh thái tự nhiên của địa phƣơng và khu vực cũng nhƣ quốc gia và toàn cầu, còn có những ảnh hƣởng tiêu cực lên cộng đồng địa phƣơng ở trong các KBT.
Những ảnh hƣởng đó dẫn đến một số thực trạng sau: - Hạn chế của ngƣời dân địa phƣơng trong việc tiếp cận với các loại lâm sản phục vụ cho sinh kế, nơi mà ngƣời dân đã chung sống với thiên nhiên qua nhiều thế hệ; - Việc sử dụng tài nguyên đất phục vụ cho canh tác cây trồng, vật nuôi bị hạn chế do một phần đƣợc đƣa vào KBT; - Văn hóa bản địa bị ảnh hƣởng do chính sách phát triển các loại hình du lịch ở khu vực có những đặc trƣng khác biệt có thể khai thác vì mục đích kinh tế. Việc xây dựng các KBT là một việc làm quan trọng, nhằm giúp bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng sống và nhất là bảo tồn đa dạng sinh học để hƣớng tới phát triển bền vững. Việc xây dựng các KBT đã 4 tác động rất lớn đến sinh kế của ngƣời dân sống phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên ở cả vùng đệm cũng nhƣ vùng lõi của các KBT. Việc dung hòa giữa bảo tồn và phát triển kinh tế là một việc làm rất khó khăn.
Trên thực tế, có nhiều nghiên cứu đã đƣợc tiến hành ở các KBT nhằm tìm ra các biện pháp hợp lý cải thiện sinh kế ngƣời dân sống xung quanh, đồng thời bảo vệ đƣợc tài nguyên và môi trƣờng trong đó. Nguồn gốc của KBT “hiện đại có từ thế kỷ thứ 19. VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, đƣợc thành lập tại Mỹ năm 1874. Trong vài thập kỷ qua, các KBT trên thế giới đang có xu hƣớng tăng cả về số lƣợng và diện tích.
Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí KBT tập 14, số 3, 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới. VQG chiếm số lƣợng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là các KBT loài và sinh cảnh. Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà KBT có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại rất nhiều nơi trên thế giới. Năm 1994 IUCN đã đƣa ra định nghĩa về KBT: “KBTTN là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN, 2008).
Năm 1994, tổ chức IUCN cũng đã đƣa ra hệ thống phân hạng các KBT. Hệ thống phân hạng 1994 có tất cả 6 phân hạng, bao gồm: - Khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt/Khu bảo vệ hoang dã (Strict Nature Reserve/ Wildeness Area); - Khu dự trữ thiên nhiên (Strict Nature Reserve); - Khu bảo vệ hoang dã (Wildeness Area); - VQG (National Park); - KBT thắng cảnh tự nhiên (National Monument/Natural Landmark); 5 - KBT loài/Sinh cảnh (Habitat/Species Management Area); - KBT cảnh quan đất liền/biển (Protected Landscape/Seascape); - KBT kết hợp sử dụng bền vững tài nguyên (Managed Resource Protected Area). Một nghiên cứu của Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, thực hiện năm 2000 (Isaacs và nnk, 2000) ở VQG Richtersveld tại Nam Phi chỉ ra rằng việc xây dựng vƣờn đã có tác động rất lớn đến đời sống của ngƣời dân nơi đây. Dân cƣ ở đây sống bằng nghề khai thác kim cƣơng, tuy nhiên đời sống của họ là rất khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, điều kiện làm việc trong các hầm mỏ nguy hiểm.
Bên cạnh đó, việc khai thác của họ ảnh hƣởng rất lớn đến đa dạng sinh học trong KBT này. Trong tình hình đó, việc xây dựng KBT đã đƣa ra những cam kết giữa ngƣời dân và chính quyền nhằm cải thiện sinh kế cho cộng đồng, mặt khác nó làm cho việc bảo tồn đa dạng sinh học của KBT diễn ra có hiệu quả hơn. Ngƣời dân cam kết s bảo vệ đa dạng sinh học trong địa phận kiếm sống của họ, còn chính quyền địa phƣơng cam kết s xây dựng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công nhằm nâng cao đời sống của ngƣời dân. Tƣơng tự, tại VQG Kruger, để đạt đƣợc quyền sử dụng đất đai, ngƣời dân phải xây dựng quy ƣớc bảo vệ môi trƣờng trong khu vực VQG, đồng thời họ cũng đƣợc chia sẻ lợi ích thu đƣợc từ du lịch.
Ở VQG Vutut tại Canada, vừa là một KBT vừa là khu di sản văn hóa của ngƣời bản địa ở vùng Bắc Cực, đời sống của thổ dân ở đây đã đƣợc cải thiện rõ rệt khi họ đƣợc tham gia vào việc quản lý KBT. Tại đây ban quản lý VQG giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và bản sắc truyền thống của ngƣời dân, bảo đảm cho sự thành công của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hóa, đồng thời 6 mang lại cuộc sống ổn định cho thổ dân sống phụ thuộc vào khai thác tài nguyên ở vƣờn. Shuchenmann (2014) đã đƣa ra một ví dụ ở VQG Andringitra, là VQG thứ 14 của nƣớc cộng hòa Madagascar.
VQG là một vùng núi có mối liên hệ giữa các hệ sinh thái, sinh cảnh, đa dạng sinh học và cảnh quan cũng nhƣ di tích văn hóa. Việc xây dựng VQG đã làm giảm diện tích chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi, gây ảnh hƣởng lớn đến sinh kế của cộng đồng.