CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ƯỚC LƯỢNG VÀ DỰ BÁO CHI PHÍ KINH DOANH 1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất 1. Khái niệm chi phí sản xuất Theo Bộ giáo dục và đào tạo (2008, tr.112) nêu rõ: “Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động bao gồm lao động sống và lao động vật hóa và những chi phí bằng tiền khác mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm”. Theo Phan Thế Công (2014, tr.165) nêu rõ: “Chi phí sản xuất là toàn bộ các phí tổn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp phải bỏ ra, phải gánh chịu trong một thời kì nhất định”.
Còn theo Mankiw (2006) lại chỉ ra rằng: “Chi phí của một thứ là các mà bạn phải bỏ ra để có được thứ đó”. Từ các khái niệm trên, ta có thể kết luận lại rằng chi phí sản xuất là số tiền phải bỏ ra để chi trả cho tất cả các yếu tố đầu vào để cấu thành sản phẩm. Phân loại chi phí sản xuất Việc phân loại chi phí được doanh nghiệp áp dụng tùy theo đặc điểm sản xuất kinh doanh, quản lý và trình độ nghiệp vụ của mình sao cho hợp lý. Do đó, phân loại chi phí sản xuất chính là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm khác nhau theo những đặc tính nhất định.
Sau đây là ba cách phân loại chi phí sản xuất: - Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng công việc Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành: Chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp. Chi phí cố định (chi phí bất biến – FC): Là những chi phí không thay đổi khi sản lượng thay đổi, nói rộng ra là những chi phí mà doanh nghiệp phải thanh toán dù không sản xuất một sản phẩm nào như tiền thuê nhà, chi phí giữ gìn, bảo dưỡng thiết bị, tiền lương cán bộ quản lý,… Chi phí biến đổi (chi phí khả biến – VC): Là những chi phí tăng giảm cùng với mức tăng giảm của sản lượng như: Tiền mua nguyên vật liệu, nhiên liệu, tiền lương của công nhân,… Chi phí hỗn hợp là chi phí bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi. Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng giúp nhà quản trị nắm được mô hình chi phí – khối lượng – lợi nhuận để xác định điểm hòa vốn nhằm đưa ra giải pháp tối ưu trong kinh doanh, nâng cao hiệu quả chi phí, làm giá thành sản phẩm giảm. - Phân loại theo khoản mục chi phí 9 Có 3 khoản mục chi phí sau: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm toàn bộ các khoản chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào sản xuất chế tạo sản phẩm.
Chi phí nhân công trực tiếp: Là những khoản chi phí tiền lương, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản thu nhập khác mà các doanh nghiệp trả cho người lao động trực tiếp sản xuất ra sản phẩm căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm mà họ sản xuất ra. Chi phí sản xuất chung: Là những khoản chi phí sản xuất phát sinh tại các xưởng, hoặc phân xưởng sản xuất, nhưng những khoản chi phí này không sử dụng trực tiếp để sản xuất ra một loại sản phẩm mà dùng cho sản xuất nhiều loại sản phẩm. Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều khoản mục: chi phí nhân viên phân xưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền khác. Phân loại theo khoản mục chi phí có tác dụng phục vụ cho quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp só liệu cho công tác giá thành phẩm, lập kế hoạch giá thành và định mức chi phí sản xuất cho kỳ sau.
- Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể đến chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào mục đích gì trong quá trình sản xuất, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu Chi phí nhiên liệu, động lực mua ngoài như: xăng, dầu, gas, … Chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài, trích bảo hiểm y tế xã hội theo quy định. Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là các hao mòn của các loại tài sản trong doanh nghiệp như nhà xưởng, máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, thiết bị dụng cụ quản lý. Chi phí dịch vụ mua ngoài: tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại,. Chi phí bằng tiền khác.
Việc phân loại theo yếu tố chi phí cho biết kết cấu, tỷ trọng từng yếu tố sản xuất để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự đoán là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, quỹ tiền lương, vốn để giúp cho việc thực hiện công tác kế toán cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất một cách nhanh chóng và chính xác. Một số lý thuyết về chi phí sản xuất 1. Các chỉ tiêu về chi phí sản xuất Để đánh giá về chi phí sản xuất, ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau: 1. Tổng chi phí (TC) Khái niệm: Tổng chi phí của việc sản xuất ra sản phẩm là tổng tất cả các loại chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất ra mức sản lượng Q trong một thời kỳ nhất định.
Công thức: TC = TFC + TVC Trong đó: TFC: Tổng chi phí cố định TVC: Tổng chi phí biến đổi Đồ thị minh họa: Hình 1.1: Đồ thị đường tổng chi phí, tổng chi phí cố định, tổng chi phí biến đổi Nhận xét: Hai đường TC và TVC cách đều với nhau vì sản xuất thêm một đơn vị sản lượng thì tổng chi phí và tổng chi phí biến đổi cũng tăng lên một lượng là như nhau, khoảng cách giữa TC và TVC đúng bằng TFC. Chi phí bình quân (ATC) Khái niệm: Chi phí bình quân là chi phí sản xuất cho một đơn vị sản phẩm. Chi phí bình quân là chỉ tiêu quan tâm cơ bản của người sản xuất. Công thức: ATC = AFC + AVC Trong đó: ATC: Chi phí bình quân 11 AFC: Chi phí cố định bình quân AVC: Chi phí biến đổi bình quân Đồ thị minh họa: Hình 1.2: Đồ thị các đường chi phí bình quân, chi phí cố định bình quân, chi phí biến đổi bình quân Chi phí cố định bình quân (AFC) là mức chi phí cố định tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm, AFC = TFC/Q.
Do chi phí cố định không thay đổi nên khi gia tăng sản lượng sản xuất, chi phí cố định bình quân sẽ luôn giảm. Vì vậy, khi biểu diễn trên đồ thị đường AFC sẽ là đường có độ dốc dương, hình dáng của đường AFC giống như một đường hyperbol tiệm cận với hai trục (không bao giờ cắt 2 trục). Chi phí biến đổi bình quân (AVC) là chi phí biến đổi tính bình quân cho một đơn vị sản phẩm AVC = TVC/Q. Do tác động của quy luật sản phẩm cận biên giảm dần nên chi phí biến đổi bình quân giảm dần sau đó sẽ tăng lên.
Vì thế nên đường AVC có dạng hình chữ U ban đầu đi xuống và sau đó đi lên. Đường ATC được xác định bằng cách cộng theo chiều dọc hai đường AFC và AVC, đường ATC cũng có dạng chữ U. Chi phí cận biên (MC) Khái niệm: Chi phí cận biên là sự thay đổi của tổng chi phí khi sản xuất thêm một phần sản phẩm. ∆ TC MC = + TC’(Q) ∆Q Với: ∆ TC=TC 1−TC2 ; ∆ Q=Q1−Q2 Trong đó: TC1 : Tổng chi phí sản xuất ở mức sản lượng TC 2: Tổng chi phí sản xuất ở sản lượng TC’(Q): Đạo hàm bậc nhất của TC theo Q 12 Do quy luật sản phẩm cận biên giảm dần nên giá trị của SMC ban đầu cũng giảm dần và sau đó tăng lên, làm đường chi phí cận biên có dạng hình chữ U như hình vẽ.3: Đường chi phí cận biên trong ngắn hạn Mối quan hệ giữa các đường chi phí Đồ thị minh họa: Hình 1.4: Mối quan hệ giữa các đường chi phí Nhận xét: Khi chi phí biên thấp hơn tổng chi phí bình quân (MC < AC) thì nó kéo chi phí bình quân xuống làm cho đường chi phí bình quân dốc xuống.
Khi chi phí biên vừa bằng với chi phí trung bình (MC = AC) thì chi phí trung bình không giảm nữa và lúc đó chi phí tủng bình đạt cực tiểu, đường MC và AC giao nhau tại điểm cực tiểu của AC. Khi MC nằm trên đường AC (MC > AC) Q tăng thì chi phí bình quân tăng lên, đường AC dốc lên. MC đạt cực tiểu trước AC và AVC, AVC đạt cực tiểu trước khi AC đạt cực tiểu, đường MC đi qua điểm cực tiểu của AVC và AC. Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp chịu sự tác động cũng như ảnh hưởng của nhiều nhận tố khác nhau, trong đó có cả nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan.
Về chiều hướng ảnh hưởng thì có nhân tố làm tăng chi phí nhưng cũng có nhân tố ảnh hưởng làm giảm các chỉ tiêu của chi phí sản xuất. Dưới đây là những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới chi phí sản xuất: 1. Nhân tố khách quan Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp hay những nhân tố thuộc môi trường hoạt động của doanh nghiệp. - Các chính sách của Nhà nước Đặc trưng của nên kinh tế nước ra là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Điều đó có nghĩa là Nhà nước không đứng ngoài sự phát triển của nền kinh tế mà đóng vai trò định hướng, kiểm soát và điều tiết hoạt động kinh tế ở tầm vĩ mô thông qua các luật lệ, chính sách và các biện pháp kinh tế. Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động phát triển sản xuất kinh doanh và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành nghề có lợi cho đất nước, cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.