phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: C ương 1: Cơ sở lý thuy t v qu t ịa bàn nghiên cứu C ương 2: Ứng x với tài nguyên thiên nhiên trong ho t ộng mưu sinh c ngườ Cơ o truy n th ng. C ương 3: B n i ứng x với tài nguyên thiên nhiên c a người Cơ Lao trong ho t ộng mưu s n. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản Ứng x : Theo Từ n Hán Việt của Đào Duy Anh (1992) thì ứng: đáp lại; và x có nghĩa là quyết đoán.
Từ n Hán Việt của tác giả Nguy n Lân (1989) cho nghĩa x là đối đãi. Theo Từ n Hán Việt của Hoàng Phê (1992) thì x có nghĩa “ n ộng t eo n o t hiện t ộ vớ người khác trong một hoàn cảnh cụ th nh t ịn ” Khái niệm ứng x (etiquette), cách ứng x liên quan đến các tƣơng tác xã hội xã hội trong phạm vi chuẩn mực văn hóa, đề cập đến các quy tắc ứng xử với các hình thức truyền thống và tập quán[53] là cách cƣ xử, là hành vi (cho con ngƣời) và có nghĩa tập tính trong sinh vật học, đồng nghĩa có từ tiếng Anh comportement đƣợc xem là hành vi, sự tiếp nhận, tác động từ bên ngoài. Consciousness chỉ hành động mà biết rõ ảnh hƣởng hay kết quả của việc mình làm, là loại hành vi có ý thức, có chủ định, có độ phức tạp và cao cấp, bị chi phối bởi lí trí. Bách khoa toàn thƣ Xô viết định nghĩa về ứng xử: Hệ thống các hệ tƣơng tác, các phản ứng đƣợc thực hiện bởi các vật thể sống để thích nghi với môi trƣờng.
Ứng xử đƣợc xem là một hệ thống quan hệ tƣơng tác giữa sinh vật (kể cả con ngƣời) và môi trƣờng (tự nhiên và xã hội). Ứng xử là t ộ, hành vi thích hợp với xung quanh. 10 Các nhà dân tộc học có cách nhìn nhận bản chất ứng xử của con ngƣời với nhiều chiều, phần lớn quan tâm đến ứng xử, đến mối quan hệ và đối xử giữa con ngƣời với nhau. Ngoài ra, đối tƣợng ứng xử không chỉ giữa con ngƣời với nhau mà còn có quan hệ ứng xử giữa con ngƣời với thế giới tụ nhiên, với tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên: Lịch sử xuất hiện và phát triển loài ngƣời gắn liền với việc khai thác, sửa dụng tài nguyên thiên nhiên. Trong quá trình phát triển của xã hội, nhận thức của con ngƣời về tài nguyên thiên nhiên đã dần có những thay đổi đáng kể: Ban đầu, tài nguyên thiên nhiên đƣợc quan niệm theo nghĩa hẹp, bao gồm dạng vật chất cụ thể của tự nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng để chế ra các vật dụng hàng ngày phục vụ cho chính cuộc sống của họ, đó là những dạng vật chất đƣợc nhìn thấy nhƣ: cây cối quặng hay chim, thú.mới đƣợc hiểu là tài nguyên, còn các yếu tố không nhìn thấy đƣợc nhƣ các chức năng, giá trị sinh thái và dịch vụ của một hệ tự nhiên nào đó thì không đƣợc xếp vào quan niệm trên [22,tr. Cùng với những tiến bộ vƣợt bậc của khoa học và công nghệ, quan niệm về tài nguyên thiên nhiên đã dần thay đổi, bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lƣợng, thông tin có trên trái đất và trong không gian vũ trụ liên quan mà con ngƣời có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và phát triển của mình, nó bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố thiên nhiên và tài nguyên con ngƣời gắn với các nhân tố về con ngƣời và xã hội [5, tr. Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên có giá trị, là nguồn lợi vât chất đƣợc con ngƣời sử dụng phục vụ cho cuộc sống và phát triển của chính con ngƣời [43, tr.
11 - Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai, đƣợc hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng để thõa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình [9, tr. - Tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ các dạng vật chất hữu dụng cho con ngƣời, cũng nhƣ các yếu tố tự nhiên mà con ngƣời có thể sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để phục vụ chính sự phát triển của họ. Theo quan niệm này thì tài nguyên thiên nhiên cũng là những hợp phần của môi trƣờng tự nhiên và các dạng phi vật chất mà con ngƣời có thể sử dụng trực tiếp hay gián tiếp cho cuộc sống và sự phát triển của mình [21, tr. Nhƣ vậy, tài nguyên thiên nhiên là các dạng vật chất và các hợp phần của môi trƣờng tự nhiên, đó là các yếu tố thuộc về tự nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm toàn bộ các yếu tố tự nhiên dù dƣới dạng vật chất hay phi vật chất, hữu dụng cho quá trình tồn tại và phát triển của con ngƣời. Có thể coi tài nguyên thiên nhiên là món quà vô cùng quý giá do thiên nhiên ban tặng cho con ngƣời, là dạng vật chất tồn tại độc lập với con ngƣời. Trong quá trình phát triển, con ngƣời lệ thuộc vào tự nhiên, do đó con ngƣời phải nhận biết đƣợc quy luật vận động và phát triển của tự nhiên để bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời. Ho t ộng mưu s n : “Ho t ộng mưu s n ” là một thành tố quan trọng trong đời sống tộc ngƣời, nó có tác động mật thiết và có sự ảnh hƣởng vô cùng quan trọng đối với các thành tố khác nhƣ chính trị, văn hoá, xã hội,… Mưu là cách thức, phƣơng cách, c n sinh là sinh sống, tồn tại.
Hiểu theo nghĩa triết tự và chung nhất, “ho t ộng mưu s n ” là những cách thức, những phƣơng cách kiếm 12 sống nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con ngƣời, của cộng đồng và của các tộc ngƣời. “ o t ộng mưu s n ” thƣờng đƣợc sử dụng trong ngành dân tộc học/nhân học nhƣ là khái niệm đồng nghĩa hay tƣơng đƣơng với các thuật ngữ n ư “ o t ộng kinh t ” “ n t tộ ngườ ” “s n tộ ngườ ” “p ương thứ mưu s n ” “tập qu n mưu s n ” “văn o sản xu t” y “p ương cách sinh t n” … Nhìn chung, những khái niệm này đƣợc sử dụng để chỉ các hoạt động sản xuất hay săn bắt, thu hái, trao đổi,… nhằm tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con ngƣời. Khi phân tích về khái niệm này, một số học giả Trung Quốc nhƣ Tôn Thu Vân cho rằng, một xã hội muốn sinh tồn phải đƣợc thoả mãn một loạt nhu cầu của các thành viên trong đó - khống chế và quy phạm hành vi của con ngƣời, đảm bảo an ninh xã hội, kết hôn nam nữ, nuôi dƣỡng và giáo dục thế hệ sau, trong đó, quan trọng nhất là phải phát triển một bộ phƣơng pháp có thể mƣu cầu ăn, mặc và ở trong môi trƣờng sinh tồn. Phƣơng pháp và thủ đoạn thấp nhất mà kiểu mƣu cầu ăn, mặc và ở này có thể duy trì sinh tồn cần phải có chính là sinh k , hoặc gọi là chi n lược sinh t n; còn p ương t ức sinh k là thủ đoạn mƣu sinh của các quần thể nhân loại áp dụng để thích ứng với môi trƣờng khác nhau.
Sinh k : Thuật ngữ “sinh k ” (livelihood) từ lâu đã đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới. Robert Champers [52] đƣợc coi là một trong những ngƣời đầu tiên tiếp cận khái niệm này vào những năm 80 thế kỷ trƣớc. Ông cho rằng, “sinh k ” gồm năng lực, tài sản, cách tiếp cận (sự dự trữ, tài nguyên, quyền sở hữu, quyền sử dụng) và các hoạt động cần thiết cho cuộc sống. Tổ chức CRD khi triển khai các chƣơng trình hoạt động phát triển cộng đồng tại Việt Nam cho 13 rằng, sinh kế là “tập hợp t t cả các ngu n l c và khả năng m on người ược, k t hợp với nh ng quy t ịnh và ho t ộng mà họ th c thi nhằm ki m s ng ũng n ư t ược các mụ t u v ước nguyện c a họ”.
C n theo định nghĩa trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID (Bộ phát triển quốc tế Anh) thì “sinh k bao g m các khả năng t sản (bao g m cả các ngu n l c vật ch t và xã hội) và các ho t ộng c n thi t ki m s ng” [33]. Ở nƣớc ta, thuật ngữ “sinh k ” mới chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây và cũng dựa trên kết quả từ sự tiếp cận các khái niệm của các tác giả nƣớc ngoài. Với sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện đặc thù của Việt Nam, phần lớn các học giả nƣớc ta đều cho rằng, một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (nguồn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất,…) và các hoạt động cần có để kiếm sống. Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa một cách đơn giản: “Sinh k là việ l m ki m ăn mưu s ng”.
Về mặt nội hàm và ngữ nghĩa, các thuật ngữ trên chỉ có chút khác biệt về sắc thái và cách sử dụng. Về cơ bản, giữa chúng có sự tƣơng đồng, với mục tiêu chung là nghiên cứu cách thức kiếm sống của con ngƣời, nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, mặc, ở và sinh hoạt. Trên thực tế, chúng ta có thể bắt gặp cách sử dụng các thuật ngữ này ở những công trình khác nhau. Trong đó, “tập quán ho t ộng kinh t ” hay “tập qu n mưu s n ” là những thuật ngữ đƣợc tác giả Trần Bình sử dụng phổ biến khi nghiên cứu về hoạt động kinh tế của các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam [2][4].
Nhìn dƣới giác độ phân ngành, “ho t ộng mưu s n ” và các thuật ngữ nói trên là những thuật ngữ cơ bản và tƣơng đƣơng của một chuyên ngành nghiên cứu mà dân tộc học/nhân học vẫn gọi là dân tộc học kinh tế, nhân học kinh tế hay c n đƣợc gọi bằng thuật ngữ kép là dân tộc học/nhân họckinh tế.