Ung thư đầu cổ: Đặc điểm, chẩn đoán và điều trị hiệu quả

Luận án tiến sĩ y tế phân tích y học đánh giá kết quả điều trị kết hợp kháng thể đơn dòng nimotuzumab hóa xạ trị ung thư biểu mô, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Trường đại học

Bệnh viện K

Chuyên ngành

Ung Thư Đầu Cổ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2013

149
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu vùng đầu cổ

1.1.1. Khoang miệng

1.1.2. Hầu (họng)

1.1.3. Thanh quản

1.2. Yếu tố nguy cơ

1.3. Dịch tễ

1.4. Tiến triển tự nhiên của bệnh

1.5. Chẩn đoán lâm sàng

1.6. Cận lâm sàng

1.6.1. Xét nghiệm tế bào và sinh thiết qua chọc hút bằng kim nhỏ

1.6.2. Chẩn đoán mô bệnh học

1.6.3. Nội soi

1.6.4. Chẩn đoán hình ảnh

1.6.4.1. Chụp cắt lớp vi tính (CT scanner) và chụp cộng hưởng từ (MRI)
1.6.4.2. Chụp PET/ CT
1.6.4.3. Siêu âm vùng cổ

Tóm tắt

I. Ung Thư Đầu Cổ Tổng Quan Dịch Tễ và Yếu Tố Nguy Cơ

Ung thư đầu cổ (UTĐC) là một nhóm bệnh ác tính phát sinh từ các vị trí khác nhau của đường hô hấp và tiêu hóa trên. Các loại ung thư vùng đầu cổ này có chung nhiều đặc điểm về sinh bệnh học, dịch tễ học, lâm sàng và phương pháp điều trị. Theo thống kê, bệnh chiếm khoảng 10% tổng số các loại ung thư. Tại Mỹ, mỗi năm ghi nhận khoảng 41.000 ca mắc mới và 12.000 ca tử vong do bệnh. Tại Việt Nam, ung thư vòm họng là loại ung thư đầu cổ phổ biến nhất và là một trong mười bệnh ung thư thường gặp ở nam giới. Ngược lại, ung thư khoang miệng lại là một trong mười bệnh ung thư thường gặp ở nữ giới. Hầu hết các khối u ác tính vùng đầu cổ xuất phát từ biểu mô bề mặt, với hơn 90% trường hợp là ung thư biểu mô tế bào vảy hoặc các biến thể của nó. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm: Hút thuốc, uống rượu, nhiễm virus HPV và EBV.

1.1. Tỷ lệ Mắc Ung Thư Đầu Cổ Trên Thế Giới và Việt Nam

Ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 650.000 ca mắc mới và 350.000 ca tử vong do ung thư đầu cổ. Tại Hoa Kỳ năm 2006, có 40.500 ca mắc mới, chiếm 2,9% tổng số các loại ung thư. Tại Việt Nam, theo thống kê giai đoạn 2001-2004, ung thư vòm mũi họng là một trong mười loại ung thư thường gặp ở nữ tại các tỉnh miền Bắc. Đối với nam giới, ung thư vòm mũi họng cũng là một trong số mười loại ung thư thường gặp ở hầu hết các thành phố được thống kê. Theo Globocan 2012, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư khoang miệng, họng miệng - hạ họng, thanh quản lần lượt là 3,3/100000; 2,7/100000; 2,7/100000.

1.2. Các Yếu Tố Nguy Cơ Chính Gây Ung Thư Vùng Đầu Cổ

Uống rượuhút thuốc là hai yếu tố nguy cơ hàng đầu của ung thư đầu cổ. Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ ung thư đầu cổ từ 2 đến 6 lần, trong khi thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ lên đến 25 lần. Nếu có cả hai yếu tố này, nguy cơ ung thư tăng từ 15 đến 40 lần. Ngoài ra, nhiễm virus Epstein Barr (EBV) có liên quan đến ung thư vòm mũi họng loại UTBM không biệt hoá. Virus HPV (đặc biệt là HPV 16, 18) là một trong những nguyên nhân quan trọng của ung thư khoang miệnghọng miệng.

II. Triệu Chứng Ung Thư Đầu Cổ 9 Dấu Hiệu Nhận Biết Sớm

Việc phát hiện sớm ung thư đầu cổ thường gặp nhiều khó khăn do các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu. Bệnh nhân có thể được chẩn đoán nhầm là viêm tai, viêm họng và điều trị kháng sinh trong thời gian dài. Đến khi phát hiện ra bệnh, thường đã ở giai đoạn muộn, gây khó khăn cho việc điều trị do khối u xâm lấn rộng và thể trạng suy yếu. Do đó, việc nhận biết các dấu hiệu sớm là vô cùng quan trọng. Các biểu hiện cơ năng thường gặp bao gồm khó nuốt, nuốt đau, cảm giác vướng trong miệng, tăng tiết nước bọt, khạc ra đờm nhày lẫn máu, mất răng không do bệnh răng miệng, loét miệng lâu lành, nói khàn, khó thở.

2.1. Các Triệu Chứng Cơ Năng Thường Gặp của Ung Thư Đầu Cổ

Các biểu hiện cơ năng thường gặp bao gồm: Khó nuốt, nuốt đau, nghẹn; cảm giác vướng trong miệng; tăng tiết nước bọt, có thể có máu; khạc ra đờm nhày, có lẫn máu, có mùi hôi thối; mất răng, răng lung lay không do bệnh răng, nướu; loét, mảng đỏ hoặc trắng ở niêm mạc miệng lâu liền; nói khàn, khó nói; ho; khó thở; xuất hiện khối bất thường vùng cổ.

2.2. Khi Nào Cần Nghi Ngờ và Đi Khám Tầm Soát Ung Thư Đầu Cổ

Nếu các triệu chứng trên tồn tại trong thời gian trên 3 tuần mà không giải thích được, cần nghĩ tới ung thư và nên được khám bởi các nhà ung thư học có kinh nghiệm. Việc khám u nguyên phát cần bao gồm hỏi bệnh, đánh giá cẩn thận và toàn diện vùng tai, mũi, miệng, họng, quan sát gián tiếp qua gương, quan sát qua nội soi. Khi khám cần đánh giá mức độ xâm lấn của khối u.

III. Chẩn Đoán Ung Thư Đầu Cổ Phương Pháp Hiện Đại Chính Xác

Chẩn đoán ung thư đầu cổ đòi hỏi sự kết hợp của nhiều phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng để xác định chính xác loại ung thư, giai đoạn bệnh và mức độ lan rộng. Các phương pháp chẩn đoán ung thư đầu cổ bao gồm: Xét nghiệm tế bào và sinh thiết, chẩn đoán mô bệnh học, nội soi và chẩn đoán hình ảnh (CT scanner, MRI, PET/CT). Chẩn đoán sớm và chính xác đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp và nâng cao hiệu quả điều trị.

3.1. Xét Nghiệm Tế Bào và Sinh Thiết Chẩn Đoán Mô Bệnh Học Quan Trọng

Khi tổn thương nguyên phát hoặc hạch cổ được xác định, xét nghiệm tế bào là một phương tiện hữu hiệu giúp gợi ý chẩn đoán. Đối với hạch cổ, sinh thiết qua chọc hút bằng kim nhỏ (Fine needle aspiration biopsy) là phương pháp thường được chỉ định. Chẩn đoán mô bệnh học là xét nghiệm bắt buộc để chẩn đoán, qua đó cũng giúp cho việc tiên lượng và điều trị. Ung thư biểu mô tế bào vảy và các biến thể của nó chiếm tới 90-95% số trường hợp UTĐC.

3.2. Chẩn Đoán Hình Ảnh CT MRI PET CT Đánh Giá Giai Đoạn Bệnh

CT scanner và MRI cho phép phát hiện khối u nguyên phát cũng như hệ thống hạch di căn. Hơn thế nữa, phương pháp này cho phép đánh giá mức độ lan rộng của bệnh vào các cấu trúc sâu như nền sọ, các xoang mặt, khoang cạnh họng, hệ thần kinh trung ương. Chụp PET/CT là phương pháp chẩn đoán hiện đại, kết hợp sử dụng các hoạt chất phóng xạ có đời sống cực ngắn. Đây là phương tiện rất hữu ích trong trường hợp chỉ ra tổn thương nguyên phát, tổn thương hạch vùng hoặc di căn không phát hiện được trên lâm sàng hoặc bằng các phương pháp chẩn đoán khác.

IV. Điều Trị Ung Thư Đầu Cổ Hiệu Quả Phẫu Thuật Xạ Trị Hóa Trị

Việc điều trị ung thư đầu cổ phụ thuộc vào vị trí giải phẫu của khối u, giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Các phương pháp điều trị ung thư đầu cổ chính bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và liệu pháp nhắm trúng đích. Việc kết hợp nhiều phương pháp điều trị (đa mô thức) thường được áp dụng để đạt hiệu quả cao nhất, đặc biệt là trong các trường hợp bệnh tiến triển.

4.1. Phẫu Thuật và Xạ Trị Điều Trị Giai Đoạn Sớm Ung Thư Đầu Cổ

Phẫu thuật và xạ trị được xem là phương thức điều trị hiệu quả cho giai đoạn I và II ở nhiều vị trí. Đối với những trường hợp tổn thương lan tràn tại vùng, điều trị đa phương thức thường được chỉ định. Các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có áp dụng hóa xạ trị (HXT) đồng thời cho UTĐC loại tế bào vảy giai đoạn lan rộng tại vùng đều chỉ ra một sự khác biệt có ý nghĩa về sống thêm so với xạ trị đơn thuần.

4.2. Hóa Xạ Trị và Liệu Pháp Nhắm Trúng Đích Điều Trị Ung Thư Tiến Triển

Hóa xạ trị (HXT) với Cisplatin đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến đối với giai đoạn không mổ được. Hơn 90% UTBM tế bào vảy của đầu cổ có bộc lộ thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (epidermal growth factor receptor - EGFR). Theo một thử nghiệm lâm sàng phase III, Cetuximab kết hợp với xạ trị đã cải thiện một cách có ý nghĩa tỷ lệ kiểm soát tại vùng và thời gian sống thêm.

V. Nimotuzumab Trong Điều Trị Ung Thư Đầu Cổ Nghiên Cứu Tại Việt Nam

Nimotuzumab là một kháng thể đơn dòng IgG1 ở thể khảm người-chuột có cơ chế tác dụng tương tự Cetuximab, được sử dụng trong điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu cổ. Các nghiên cứu cho thấy Nimotuzumab giảm đáng kể tác dụng không mong muốn trên da so với Cetuximab. Tại Việt Nam, Nimotuzumab đã được áp dụng điều trị từ năm 2009 và đã thu được những kết quả bước đầu. Vì là một thuốc mới nên cho tới nay chưa có một nghiên cứu trong nước nào đề cập đến hiệu quả và tính an toàn của thuốc đối với UTĐC.

5.1. Hiệu Quả và Tính An Toàn của Nimotuzumab Trong Điều Trị

Vai trò của Nimotuzumab trong UTBM tế bào vảy vùng đầu cổ đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng, cho thấy Nimotuzumab được dung nạp tốt và cho hiệu quả điều trị cao khi phối hợp với xạ trị hoặc hóa xạ trị.

5.2. Nghiên Cứu Đánh Giá Nimotuzumab tại Bệnh Viện K Mục Tiêu

Một nghiên cứu tại Bệnh viện K (từ 6/2010 đến 6/2013) tiến hành nhằm đánh giá kết quả điều trị của phác đồ Nimotuzumab - hóa xạ trị đối với ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu cổ giai đoạn III, IVA, IVB, đồng thời đánh giá tác dụng không mong muốn của phác đồ điều trị.

VI. Phòng Ngừa Ung Thư Đầu Cổ Lối Sống Lành Mạnh và Tầm Soát

Phòng ngừa ung thư đầu cổ bao gồm việc loại bỏ các yếu tố nguy cơ có thể kiểm soát được như hút thuốc và uống rượu. Ngoài ra, việc duy trì một lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống cân bằng và tăng cường hệ miễn dịch cũng đóng vai trò quan trọng. Tầm soát sớm ung thư đầu cổ cũng giúp phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, từ đó nâng cao hiệu quả điều trị và cải thiện tiên lượng sống.

6.1. Thay Đổi Lối Sống Giảm Nguy Cơ Ung Thư Đầu Cổ

Bỏ thuốc lá và hạn chế uống rượu là những biện pháp quan trọng nhất để giảm nguy cơ ung thư đầu cổ. Duy trì vệ sinh răng miệng tốt, tránh tiếp xúc với các chất gây ung thư trong môi trường làm việc cũng góp phần phòng ngừa bệnh.

6.2. Tầm Soát Ung Thư Đầu Cổ Phát Hiện Sớm và Điều Trị Kịp Thời

Những người có yếu tố nguy cơ cao (hút thuốc lá lâu năm, uống rượu nhiều, tiền sử gia đình mắc ung thư đầu cổ) nên thực hiện khám tầm soát ung thư đầu cổ định kỳ. Khám tầm soát giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường và can thiệp điều trị kịp thời.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/05/2025
Luận án tiến sĩ y học đánh giá kết quả điều trị kết hợp kháng thể đơn dòng nimotuzumab hóa xạ trị ung thư biểu mô vảy vùng đầu cổ giai đoạn lan tràn tại vùng đầu cổ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đầu cổ (UTĐC) là một nhóm bệnh ung thư (UT) xuất phát từ những vị trí khác nhau ở đường hô hấp và tiêu hoá trên. Những UT này có nhiều điểm chung về sinh bệnh học, dịch tễ, lâm sàng và điều trị. Bệnh chiếm 10% trong tổng số các loại UT. Tại Mỹ, mỗi năm có khoảng 41.000 trường hợp bệnh mới mắc và 12.000 ca chết vì bệnh [1].

Tại Việt Nam UT vòm mũi họng là bệnh hay gặp nhất trong các UTĐC và là một trong mười loại bệnh hay gặp ở nam, còn UT khoang miệng là một trong mười loại UT hay gặp ở nữ [2]. Hầu hết các khối u ác tính vùng đầu cổ xuất phát từ biểu mô bề mặt nên có tới hơn 90% số trường hợp là ung thư biểu mô (UTBM) tế bào vảy hoặc các biến thể của nó như u biểu mô dạng lymphô, UTBM tế bào hình thoi, UTBM dạng mụn cơm, UTBM không biệt hoá. Trên toàn thế giới, nguy cơ mắc UTBM tế bào vảy ở đầu cổ là khoảng 50.000 trường hợp mỗi năm. Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 50, với tỷ lệ nam/nữ khoảng 2,5/1.

Hút thuốc, uống rượu, nhiễm virus HPV, EBV là những yếu tố nguy cơ thường gặp. Với đặc điểm giải phẫu phức tạp, UTĐC rất khó được chẩn đoán sớm do các triệu chứng thường không đặc hiệu, bệnh nhân (BN) có khi phải điều trị kháng sinh một thời gian dài với chẩn đoán là viêm tai, viêm họng,…đến khi phát hiện ra bệnh thì thường đã ở giai đoạn muộn, rất khó khăn cho điều trị do khối u xâm lấn rộng và thể trạng suy yếu. Điều trị (ĐT) UTĐC phải tuỳ thuộc vào vị trí giải phẫu và giai đoạn bệnh. Phẫu thuật (PT) và xạ trị (XT) được xem là phương thức điều trị hiệu quả cho giai đoạn I và II ở nhiều vị trí.

Đối với những trường hợp tổn thương lan tràn tại vùng, điều trị đa phương thức thường được chỉ định. Những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có áp dụng hoá xạ trị (HXT) đồng thời cho 2 UTĐC loại tế bào vảy giai đoạn lan rộng tại vùng đều chỉ ra một sự khác biệt có ý nghĩa về sống thêm so với XT đơn thuần [3],[4],[5]. Từ lợi ích được chứng minh, HXT có Cisplatin đã trở thành phương pháp điều trị phổ biến đối với giai đoạn không mổ được. Hơn 90% UTBM tế bào vảy của đầu cổ có bộc lộ thụ thể yếu tố phát triển biểu bì (epidermal growth factor receptor - EGFR) [6].

Sự bộc lộ thụ thể này thường liên quan với một kết quả điều trị và sống thêm kém [7],[8]. Các tác nhân chặn EGFR làm tăng nhạy cảm của khối u với XT và tăng hiệu quả của hoá trị (HT) trên các nghiên cứu tiền lâm sàng [9]. Theo một thử nghiệm lâm sàng phase III, Cetuximab kết hợp với XT đã cải thiện một cách có ý nghĩa tỷ lệ kiểm soát tại vùng và thời gian sống thêm [10]. Với cơ chế tác dụng tương tự Cetuximab, kháng thể đơn dòng Nimotuzumab là một IgG1 ở thể khảm người-chuột nên có những nghiên cứu cho thấy giảm đáng kể tác dụng không mong muốn trên da so với Cetuximab [11].

Vai trò của Nimotuzumab trong UTBM tế bào vảy vùng đầu cổ đã được chứng minh qua các thử nghiệm lâm sàng [12],[13],[14]. Qua đó cho thấy Nimotuzumab được dung nạp tốt và cho hiệu quả điều trị cao khi phối hợp với XT hoặc HXT. Tại Việt Nam, Nimotuzumab đã được bắt đầu áp dụng điều trị từ 2009 và đã thu được những kết quả bước đầu. Vì là một thuốc mới nên cho tới nay chưa có một nghiên cứu trong nước nào đề cập đến hiệu quả và tính an toàn của thuốc đối với UTĐC.

Để có thêm những đánh giá cụ thể hơn về vai trò điều trị của Nimotuzumab, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả điều trị của phác đồ Nimotuzumab - hoá xạ trị đối với ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu cổ giai đoạn III, IVA, IVB tại Bệnh viện K từ 6/2010 đến 6/2013. Đánh giá tác dụng không mong muốn của phác đồ điều trị trên. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.

Giải phẫu vùng đầu cổ 1. Khoang miệng Khoang miệng là phần đầu của hệ tiêu hoá, chứa đựng nhiều cơ quan có chức năng quan trọng về tiêu hoá và phát âm như răng, lưỡi, và tiếp nhận dịch tiết của các tuyến nước bọt. Nó thông ở trước với bên ngoài qua khe miệng, thông ở sau với hầu qua eo họng, ngăn cách với hốc mũi ở trên bởi khẩu cái (vòm miệng), và ở dưới là nền miệng (chứa lưỡi và vùng dưới lưỡi), và môi- má ở phía trước-bên. Các cung răng chia khoang miệng thành hai phần: phía trước là tiền đình miệng gồm môi, má và các cung răng ; phía sau là ổ miệng chính.

Hầu (họng) Hầu là một ống cơ - sợi đuợc phủ bởi niêm mạc, dài chừng 12-14 cm, đi từ nền sọ tới đầu trên thực quản ở ngang mức đốt sống cổ VI. Hầu nằm trước cột sống cổ, nó mở thông ở phía trước vào ổ mũi, ổ miệng và thanh quản nên được chia thành ba phần là phần mũi, phần miệng và phần thanh quản.  Phần mũi của hầu (tỵ hầu, họng mũi): Phần này nằm ngay sau lỗ mũi sau, trên họng miệng và được ngăn cách với họng miệng bằng khẩu cái mềm trong lúc nuốt. Thành trên và sau là vòm hầu, ứng với vùng niêm mạc phủ mặt dưới của thân xương bướm, phần nền xuơng chẩm và cung trước đốt đội.

 Phần miệng của hầu (khẩu hầu, họng miệng): Họng miệng thông ở dưới với hạ họng qua eo họng. Eo họng được giới hạn ở trên bởi lưỡi gà và hai cung khẩu cái lưỡi và ở dưới bởi mặt lưng lưỡi. Thành sau của họng miệng nằm trước các đốt sống cổ II, III. Trên 4 mỗi thành bên, họng miệng có hai nếp niêm mạc từ khẩu cái mềm đi xuống gọi là hai cung khẩu cái.

Giữa hai cung là một hố chứa hạnh nhân khẩu cái.  Phần thanh quản của hầu (thanh hầu, hạ họng): Hạ họng liên tiếp với họng miệng ở trên và thực quản ở dưới, nằm trước các đốt sống cổ III, IV, V, ở trước hạ họng là thanh quản nhưng có thể phân biệt thành hai phần: Phần trên là lỗ vào thanh quản, phần dưới ngăn cách với ổ thanh quản bằng sụn phễu, sụn nhẫn và cơ gian phễu. Khi nuốt, thượng thiệt hạ xuống đậy lỗ vào thanh quản. Thiết đồ đứng dọc qua hầu [15] 1.

Thanh quản Thanh quản là phần đường dẫn khí nằm giữa hầu và khí quản, là cơ quan phát âm chính. Thanh quản được cấu tạo bởi những sụn nối với nhau bằng dây chằng, và các màng, khớp giữa các sụn được vận động bởi các cơ. Thanh quản thông với hầu tại lỗ vào thanh quản. Lỗ được giới hạn bởi bờ trên của thượng thiệt ở trước, nếp gian phễu ở sau, và các nếp phễu-thượng thiệt ở hai bên.

Có hai cặp nếp niêm mạc từ thành ổ nhô vào lòng ổ: ở trên là hai nếp tiền đình giới hạn khe tiền đình, phía dưới là hai nếp thanh âm nằm ở hai bên của 5 phần trước khe thanh môn. Các nếp và khe chia thanh quản thành ba phần: tiền đình thanh quản (thượng thanh môn), thanh quản trung gian (thanh môn), ổ dưới thanh môn (hạ thanh môn) [15]. Yếu tố nguy cơ Uống rượu và hút thuốc là hai yếu tố nguy cơ chính của bệnh. Uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ UTĐC từ 2-6 lần, trong khi đó thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ lên đến 25 lần, và nếu có cả hai yếu tố này, nguy cơ UT tăng 15 đến 40 lần [1].

Không chỉ thuốc lá có khói, tiêu thụ các loại thuốc không khói cũng làm tăng nguy cơ UT khoang miệng do tăng các tổn thương ở vùng mô tiếp xúc lên tới 50 lần. Ở một số nơi của châu Á và châu Phi, thói quen nhai trầu cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện các tổn thương tiền UT và UT khoang miệng. Hút thuốc và uống rượu thường gây tổn thương niêm mạc nhiều ổ, điều này giải thích tại sao có tới 2-6% trường hợp xuất hiện UTĐC thứ hai, đây cũng là nguyên nhân chính gây tử vong trong số các trường hợp sống sót sau điều trị UTĐC. Nhiễm vi rút Epstein Barr (EBV) có mối liên quan với nguy cơ xuất hiện UT vòm mũi họng loại UTBM không biệt hoá và các loại không phải tế bào vảy.

Vi rút sinh u nhú người (HPV), đặc biệt là HPV 16, 18 là một trong những nguyên nhân quan trọng của UT khoang miệng và họng miệng [1]. Ngoài ra phải kể đến một số yếu tố nguy cơ quan trọng khác như ánh nắng mặt trời (đối với UT môi), phơi nhiễm nghề nghiệp với nikel, chronium, bụi gỗ (UT mũi, xoang), nhiễm xạ (UT tuyến giáp và tuyến nước bọt), thiếu vitamin A, bất thường sửa chữa DNA (thiếu máu Fanconi), dùng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài sau ghép tạng. Dịch tễ UTĐC đứng hàng thứ sáu về tỷ lệ mắc bệnh, chiếm khoảng 10% tổng số các loại UT. Ước tính hàng năm trên thế giới có khoảng 650.000 trường hợp 6 mới mắc và 350.000 trường hợp tử vong do bệnh [1].

Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, UTĐC có 40.500 trường hợp mới mắc, chiếm 2,9% tổng số các loại UT [16]. Bệnh thường được chẩn đoán sau độ tuổi 50 ngoại trừ UT tuyến nước bọt và UT vòm mũi họng có xu hướng mắc ở người trẻ. Nguy cơ mắc bệnh tăng lên cùng với tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là khoảng 2,5/1.

Theo thống kê tại Việt Nam giai đoạn 2001-2004, UT vòm mũi họng là một trong mười UT thường gặp ở nữ tại các tỉnh miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, UT miệng đứng hàng thứ bảy tại Huế với tỷ lệ 4,7% trong tổng số các loại UT. Còn đối với nam, UT vòm cũng là một trong số mười UT thường gặp ở hầu hết các thành phố được thống kê, riêng UT lưỡi có tỷ lệ cao ở hai thành phố là Hải Phòng và Huế [2]. Theo Globocan 2012, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của UT khoang miệng, họng miệng - hạ họng, thanh quản tương ứng là 3,3/100000; 2,7/100000; 2,7/100000 [17]. Mô hình bệnh ung thư ở Việt Nam theo Globocan 2012 [17] 7 1.

Tiến triển tự nhiên của bệnh UTBM dạng biểu bì thường xuất phát từ những tổn thương bề mặt nhưng đôi khi cũng xuất phát từ ống tuyến nước bọt phụ nên có thể bắt đầu từ lớp dưới niêm, thường thấy ở UT vùng sàn miệng, gốc lưỡi và vòm. Những khối u xuất phát từ vòng Waldeyer có thể khó phân biệt với mô lymphô bình thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ung Thư Đầu Cổ: Đặc Điểm, Chẩn Đoán và Điều Trị Hiệu Quả" cung cấp cái nhìn tổng quan về ung thư đầu cổ, bao gồm các đặc điểm nhận diện, phương pháp chẩn đoán và các phương pháp điều trị hiệu quả. Nội dung tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về bệnh lý này mà còn cung cấp thông tin hữu ích về các lựa chọn điều trị hiện có, từ đó nâng cao khả năng nhận thức và quyết định cho bệnh nhân và người thân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị ung thư, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ đánh giá điều trị ung thư biểu mô vảy hạ họng giai đoạn iii iv m0 bằng cisplatin taxane và 5 fu trước phẫu thuật và hoặc xạ trị, nơi cung cấp thông tin chi tiết về điều trị ung thư hạ họng.

Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy kèm nạo hạch triệt để trong điều trị ung thư vùng đầu tụy watermark cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến các phương pháp phẫu thuật trong điều trị ung thư.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án nghiên cứu biểu hiện dấu ấn tế bào gốc ung thư trong ung thư biểu mô tế bào gan, giúp bạn nắm bắt được các khía cạnh mới trong nghiên cứu ung thư. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp điều trị và nghiên cứu hiện tại trong lĩnh vực ung thư.