Đánh Giá Kết Quả Điều Trị Lơ Xê Mi Cấp Dòng Tủy Bằng Phương Pháp Ghép Tế Bào Gốc Đồng Loài

Luận án tiến sĩ đánh giá hiệu quả điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy qua phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài, mang lại hy vọng mới cho bệnh nhân.

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
204
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lơ xê mi cấp dòng tủy

1.2. Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh của LXM cấp dòng tủy

1.2.1. Bệnh nguyên LXM cấp dòng tủy

1.2.2. Cơ chế bệnh sinh của LXM cấp

1.3. Triệu chứng lâm sàng

1.4. Triệu chứng xét nghiệm

1.4.1. Xét nghiệm hình thái tế bào máu ngoại vi và tủy xương

1.4.2. Xét nghiệm miễn dịch

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn lựa chọn người hiến TBG

2.4. Tiêu chuẩn lựa chọn đơn vị máu dây rốn

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Thiết kế nghiên cứu

2.5.2. Phương pháp chọn mẫu

2.5.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.5.4. Các xét nghiệm, quy trình được sử dụng trong nghiên cứu

2.5.5. Các tiêu chuẩn nghiên cứu

2.5.6. Thời gian theo dõi bệnh nhân

2.5.7. Thu thập, xử lý số liệu và phân tích kết quả

2.5.8. Đạo đức nghiên cứu

3. ĐẶC ĐIỂM VỀ BỆNH NHÂN VÀ NGƯỜI HIẾN TRƯỚC GHÉP, NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LÂM SÀNG VÀ XÉT NGHIỆM TRONG VÀ SAU GHÉP

3.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trước ghép

3.2. Đặc điểm về nguồn TBG và điều kiện hóa trước ghép

3.3. Đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm trước, trong và sau ghép

3.4. Kết quả ghép và một số yếu tố liên quan

3.4.1. Tỷ lệ gặp mọc mảnh ghép

3.4.2. Bệnh ghép chống chủ (GVHD)

3.4.3. Kết quả chung và đặc điểm tái phát, tử vong, thời gian sống thêm toàn bộ (OS), thời gian sống thêm không bệnh (DFS)

3.4.4. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm với kết quả ghép

3.5. Bàn luận một số kết quả ghép

3.6. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm với kết quả ghép TBG tạo máu đồng loài ở bệnh nhân LXM cấp dòng tủy

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lơ xê mi cấp dòng tủy

Lơ xê mi cấp dòng tủy (AML) là một bệnh máu ác tính đặc trưng bởi sự tăng sinh và tích lũy các tế bào non ác tính trong tủy xương và máu ngoại vi. Bệnh gây suy tủy, dẫn đến thiếu máu, nhiễm trùng và chảy máu. Bệnh nguyên của AML liên quan đến các yếu tố như tuổi tác, phơi nhiễm phóng xạ, hóa chất, và các bệnh di truyền. Cơ chế bệnh sinh được giải thích qua sự đột biến gen và nhiễm sắc thể, dẫn đến tăng sinh tế bào blast và suy tủy thứ phát. Triệu chứng lâm sàng bao gồm hội chứng thiếu máu, xuất huyết, nhiễm trùng và thâm nhiễm. Xét nghiệm hình thái tế bào máu và tủy xương là cơ sở chẩn đoán, với tỷ lệ tế bào blast ≥ 20% trong tủy.

1.1 Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh

Bệnh nguyên của AML bao gồm các yếu tố như tuổi tác, phơi nhiễm phóng xạ, hóa chất, và các bệnh di truyền. Cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự đột biến gen và nhiễm sắc thể, dẫn đến tăng sinh tế bào blast và suy tủy thứ phát. Mô hình bệnh sinh hiện nay là mô hình tác động kép, với hai nhóm đột biến nối tiếp nhau khởi phát bệnh.

1.2 Triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm

Triệu chứng lâm sàng của AML bao gồm hội chứng thiếu máu, xuất huyết, nhiễm trùng và thâm nhiễm. Xét nghiệm hình thái tế bào máu và tủy xương là cơ sở chẩn đoán, với tỷ lệ tế bào blast ≥ 20% trong tủy. Xét nghiệm miễn dịch và di truyền giúp xác định dòng tế bào và đột biến gen đặc hiệu.

II. Ghép tế bào gốc đồng loài

Ghép tế bào gốc đồng loài (Allo-HSCT) là phương pháp điều trị hiệu quả cho lơ xê mi cấp dòng tủy, đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi. Phương pháp này sử dụng tế bào gốc từ người hiến phù hợp HLA để thay thế tủy xương bệnh lý. Hiệu quả điều trị của Allo-HSCT được đánh giá qua tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS). Tuy nhiên, phương pháp này cũng tiềm ẩn các biến chứng như bệnh ghép chống chủ (GVHD) và tái phát bệnh.

2.1 Hiệu quả điều trị

Hiệu quả điều trị của Allo-HSCT được đánh giá qua tỷ lệ sống thêm toàn bộ (OS) và sống thêm không bệnh (DFS). Nghiên cứu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 60-70% ở bệnh nhân trẻ tuổi. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát và tử vong liên quan đến điều trị vẫn là thách thức lớn.

2.2 Biến chứng và thách thức

Biến chứng chính của Allo-HSCT là bệnh ghép chống chủ (GVHD), xảy ra khi tế bào miễn dịch từ người hiến tấn công cơ thể người nhận. Các biến chứng khác bao gồm nhiễm trùng, suy gan, và tái phát bệnh. Việc tìm người hiến phù hợp HLA và quản lý biến chứng sau ghép là những thách thức lớn trong điều trị.

III. Đánh giá hiệu quả điều trị

Đánh giá hiệu quả điều trị AML bằng Allo-HSCT dựa trên các yếu tố như tỷ lệ sống thêm, tái phát, và biến chứng. Nghiên cứu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2012-2015 cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 60-70% ở bệnh nhân trẻ tuổi. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bao gồm tình trạng bệnh trước ghép, phù hợp HLA, và nguồn tế bào gốc.

3.1 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bao gồm tình trạng bệnh trước ghép, phù hợp HLA, và nguồn tế bào gốc. Bệnh nhân ở giai đoạn lui bệnh hoàn toàn (CR1) có tỷ lệ sống thêm cao hơn so với bệnh nhân tái phát. Phù hợp HLA giữa người hiến và người nhận cũng là yếu tố quan trọng giảm nguy cơ GVHD và tái phát.

3.2 Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương giai đoạn 2012-2015 cho thấy tỷ lệ sống thêm 5 năm đạt 60-70% ở bệnh nhân trẻ tuổi. Tỷ lệ tái phát và tử vong liên quan đến điều trị là 20-30%. Kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của Allo-HSCT trong điều trị AML.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đánh giá kết quả điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy bằng ghép tế bào gốc tạo máu đồng loài

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Lơ xê mi cấp dòng tủy Lơ xê mi (LXM) cấp là một nhóm bệnh máu ác tính. Đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh và tích lũy một loại tế bào non ác tính hệ tạo máu (tế bào blast) trong tuỷ xương và máu ngoại vi. Tế bào ác tính lấn át, ức chế quá trình sinh sản và biệt hóa các tế bào tạo máu bình thường tại tủy xương.

Sự tăng sinh và tích luỹ các tế bào ác tính sẽ dẫn đến hai hậu quả: (1) Sinh máu bình thường bị giảm sút gây nên tình trạng suy tuỷ xương dẫn đến thiếu máu, nhiễm trùng và chảy máu; (2) Các tế bào ác tính lan tràn ra máu, thâm nhiễm vào các mô làm tăng thể tích các cơ quan như gan to, lách to, hạch to, phì đại lợi, đau xương [3],[4],[5]. Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh của LXM cấp dòng tủy 1. Bệnh nguyên LXM cấp dòng tủy gắn liền với nhiều yếu tố nguy cơ khác nhau như tuổi, các bệnh lý cơ quan tạo máu có trước đó (các tình trạng tiền LXM), phơi nhiễm phóng xạ, hóa chất, virus, mắc một số bệnh di truyền, thứ phát sau hội chứng rối loạn sinh tủy, hội chứng tăng sinh tủy [3],[5]. Cơ chế bệnh sinh của LXM cấp Cơ chế bệnh sinh của LXM cấp được cho là do có sự hoạt hóa các gen kiểm soát sự sinh sản và biệt hóa tế bào thông qua đột biến gen và nhiễm sắc thể.

Hậu quả là tăng sinh tế bào blast, bất thường chức năng chết theo chương trình (apoptosis) và suy tủy thứ phát [4],[5]. Hiện nay, người ta cho rằng LXM có một quá trình bệnh lý bao gồm nhiều giai đoạn. Trong quá trình này, các tế bào gốc (TBG) tạo máu phơi nhiễm và tương tác với tác nhân gây ung thư. Do đó, mỗi thể LXM có thể có những cơ chế bệnh sinh đặc trưng, thể hiện ở những biến đổi vật chất di truyền đặc hiệu ở mức độ nhiễm sắc thể và gen.

Các tổn thương vật chất di 4 truyền mắc phải được tìm thấy trên 50-80% bệnh nhân LXM. Mặt khác, hầu hết các trường hợp LXM là nguyên phát và không phát hiện được mối liên quan trực tiếp giữa tác nhân gây ung thư với sự tiến triển của bệnh. Vấn đề này được giải thích một phần do cơ chế bệnh sinh nhiều giai đoạn của LXM, khi tác nhân gây đột biến tác động rất sớm vào TBG tạo máu, lúc bệnh còn chưa biểu hiện. Mô hình hiện nay về cơ chế bệnh sinh của LXM được gọi là mô hình tác động kép của các tác nhân gây ung thư với 2 nhóm đột biến nối tiếp nhau là nhóm I và nhóm II.

Khi có cả 2 biến đổi này thì LXM sẽ được khởi phát [3],[5]. Triệu chứng lâm sàng Dựa vào các triệu chứng/hội chứng: - Hội chứng thiếu máu; - Hội chứng xuất huyết; - Hội chứng đông máu rải rác trong lòng mạch; - Hội chứng nhiễm trùng; - Hội chứng thâm nhiễm [4],[5]. Triệu chứng xét nghiệm a. Xét nghiệm hình thái tế bào máu ngoại vi và tủy xương - Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi: + Thiếu máu bình sắc, hồng cầu kích thước bình thường, hồng cầu lưới giảm; + Số lượng bạch cầu thường tăng, nhưng có thể bình thường hoặc giảm trong một số ít trường hợp; + Công thức bạch cầu gặp một tỷ lệ tế bào non - ác tính (tế bào blast); + Số lượng tiểu cầu giảm [3],[4],[5].

- Xét nghiệm tủy xương: 5 + Tuỷ đồ là xét nghiệm quyết định chẩn đoán. Dịch tủy lấy ra sẽ được sử dụng cho nhiều kỹ thuật xét nghiệm khác nhau: hình thái tế bào học, hoá học tế bào, miễn dịch tế bào và di truyền tế bào/sinh học phân tử. + Xét nghiệm tủy đồ cho thấy sự tăng sinh các tế bào blast chiếm tỷ lệ ≥ 20% các tế bào có nhân trong tủy. Ngoài ra, trong tủy xương còn các biểu hiện khác như số lượng tế bào tuỷ thường tăng, các dòng hồng cầu, bạch cầu hạt và mẫu tiểu cầu bị lấn át bởi tế bào blast.

+ Nhuộm hoá học tế bào cho phép chẩn đoán thể bệnh LXM cấp theo bảng xếp loại FAB (French-American-British). Các phương pháp nhuộm hóa học tế bào hiện đang được sử dụng bao gồm: nhuộm Periodic Acid-Schiff (PAS), sudan đen hoặc myeloperoxidase (MPO) và esterase (đặc hiệu và không đặc hiệu). + Sinh thiết tuỷ xương được chỉ định trong trường hợp chọc hút tuỷ không chẩn đoán xác định được do tủy nghèo tế bào [3],[4],[5]. - Xét nghiệm miễn dịch phát hiện dấu ấn màng tế bào của tế bào non - ác tính.

Đây là kỹ thuật sử dụng kháng thể đơn dòng để phát hiện những dấu ấn trên bề mặt tế bào hoặc trong bào tương. Các dấu ấn này được gọi tên là các cụm biệt hóa (Cluster of Differentiation: CD). Dấu ấn miễn dịch tế bào thay đổi tùy theo lứa tuổi và dòng tế bào, do đó được sử dụng để phân biệt tế bào blast thuộc các dòng khác nhau [3],[4]. - Xét nghiệm nhiễm sắc thể và gen: Trong LXM cấp dòng tủy gặp khá nhiều rối loạn nhiễm sắc thể (NST) và gen, trong đó có những đột biến NST và gen khá đặc trưng, có ý nghĩa trong chẩn đoán thể bệnh, lựa chọn điều trị và tiên lượng bệnh [3],[4].

Tiêu chuẩn chẩn đoán LXM cấp dòng tủy 1. Chẩn đoán xác định Chẩn đoán xác định LXM cấp dựa vào biểu hiện lâm sàng và xét nghiệm, cụ thể là: - Dựa vào triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh; 6 - Dựa vào triệu chứng cận lâm sàng: xét nghiệm tuỷ đồ thấy tế bào blast ³ 20% tế bào có nhân trong tuỷ. - Theo tiêu chuẩn chẩn đoán năm 1986 của FAB, các tế bào blast phải chiếm tỷ lệ ≥ 30% các tế bào có nhân trong tủy thì chẩn đoán xác định LXM cấp. - Năm 2008, Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra tiêu chuẩn mới để chẩn đoán xác định LXM cấp với quy định tỷ lệ tế bào blast ≥ 20% các tế bào có nhân trong tủy [3],[4],[5],[6].

Chẩn đoán thể bệnh Chẩn đoán thể bệnh LXM cấp dựa vào các bảng xếp loại của Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization: WHO) và FAB. Bảng xếp loại LXM cấp dòng tủy theo FAB 1986 Bảng xếp loại FAB của các nhà huyết học Pháp, Mỹ và Anh cơ bản dựa trên hình thái tế bào blast, có sử dụng thêm đặc điểm nhuộm hóa học tế bào. Theo bảng xếp loại này, LXM cấp được chia ra thành dòng tủy và dòng lympho. Trong đó, LXM cấp dòng tủy có 8 thể (M0-M7), cụ thể như sau: - M0: LXM cấp tế bào biệt hoá tối thiểu; - M1: LXM cấp nguyên tủy bào biệt hoá ít; - M2: LXM cấp nguyên tủy bào có sự biệt hóa; - M3: LXM cấp tiền tủy bào (với dưới nhóm M3v); - M4: LXM cấp dòng tủy-mono (với dưới nhóm M4eo); - M5: LXM cấp dòng mono; - M6: LXM cấp dòng hồng cầu; - M7: LXM cấp dòng mẫu tiểu cầu.

Bảng xếp loại LXM cấp dòng tủy theo WHO (2008) - Năm 2008 WHO đưa ra các bảng xếp loại mới cho LXM cấp dòng tủy, hội chứng rối loạn sinh tủy, hội chứng tăng sinh tủy mạn ác tính và bệnh lý ác tính dòng lympho. Các bảng xếp loại này được cập nhật năm 2016. Đây là 7 bảng xếp loại dễ hiểu và rất tiện dụng để đưa ra các lựa chọn điều trị dựa trên nhóm tiên lượng. - Theo bảng xếp loại của WHO, LXM cấp dòng tủy được xếp loại dựa trên các tiêu chí: đặc điểm tế bào di truyền, miễn dịch và bất thường vật chất di truyền ở mức độ nhiễm sắc thể (NST) và gen.

- WHO đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán LXM cấp với tỷ lệ blast ≥ 20% tế bào có nhân trong tủy, đồng thời bổ sung các dưới nhóm LXM cấp như nhóm có bất thường vật chất di truyền đặc trưng hay LXM cấp thứ phát. Xếp loại LXM cấp dòng tủy của WHO (2008) - LXM cấp dòng tủy có chuyển đoạn/đảo đoạn cân bằng: + t(8;21)(q22;q22); gen RUNX1-RUNX1T1; + inv(16)(p13q22) hoặc t(16;16)(p13.1;q22); gen CBFB-MYH11; + t(15;17)(q22;q12); gen PML-RARA; + t(9;11)(p22;q23); gen MLLT3-MLL; + t(6;9)(p23;q34); gen DEK-NUP214; + inv(3)(q21q26.2); gen RPN-EVI1; + t(1;22)(p13;q13); gen RBM15-MKL1; - LXM cấp dòng tủy với đột biến gen và yếu tố tiên lượng. - LXM cấp dòng tủy có kèm tổn thương đa dòng: + Thứ phát sau MDS hoặc MDS/MPD; + Không thứ phát sau MDS hoặc MDS/MPD, nhưng có tổn thương trên ³ 50% tế bào trong ³ 2 dòng tế bào tuỷ; - LXM cấp dòng tủy và MDS liên quan đến điều trị: + Liên quan đến tác nhân alkyl hoá/tia xạ; + Liên quan đến thuốc ức chế Topoisomerase II; + Liên quan đến các thuốc điều trị ung thư khác; - LXM cấp dòng tủy chưa được xếp loại theo các cách trên: + LXM cấp dòng tủy tế bào biệt hoá tối thiểu; + LXM cấp dòng tủy tế bào chưa có sự chưa trưởng thành; 8 + LXM cấp dòng tủy tế bào có sự trưởng thành; + LXM cấp dòng tủy - mono; + LXM cấp dòng tủy dòng mono (monoblast/monocyte); + LXM cấp dòng hồng cầu/tủy và dòng hồng cầu đơn thuần; + LXM cấp dòng tủy dòng mẫu tiểu cầu; + LXM cấp dòng tủy tăng bạch cầu ưa base; + Tăng sinh toàn tủy cấp kèm theo xơ tuỷ; + Sarcoma tủy. Yếu tố tiên lượng bệnh dựa trên tổn thương di truyền tế bào và sinh học phân tử Bảng 1.

Yếu tố tiên lượng bệnh LXM cấp dòng tủy [7],[8] Nhóm Di truyền tế bào Sinh học phân tử Tốt inv(16) hoặc t(16;16) Công thức NST bình thường t(8;21) Đột biến NPM1 không kèm t(15;17) theo FLT3-ITD hoặc đột biến CEBPA 2 allen đơn thuần Trung bình Công thức NST bình thường t(8;21), ivn(16), t(16;16) +8 đơn thuần kèm theo đột biến c-KIT t(9;11) Các bất thường khác chưa biết rõ Xấu Bất thường phức tạp (≥ 3 tổn Công thức NST bình thường thương NST) Đột biến FLT3-ITD Công thức NST đơn bội Đột biến TP53 -5, 5q-, -7, 7q- 11q23 - không t(9;11) inv(3), t(3;3) t(6;9) t(9;22) 9 Sự xuất hiện những bất thường di truyền tế bào có giá trị dự đoán tỷ lệ lui bệnh, nguy cơ tái phát và kết quả sống thêm toàn bộ. Trong một phân tích dữ liệu từ khoa nhi và bệnh nhân người lớn mắc bệnh với LXM cấp dòng tủy (n = 1.612) được thực hiện bởi Hội đồng nghiên cứu Y khoa Vương quốc Anh cho thấy, tỷ lệ sống thêm 5 năm đối với những bệnh nhân di truyền tế bào thuộc nhóm tiên lượng tốt, trung bình và xấu tương ứng là 65%, 41% và 14%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiệu quả điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy bằng ghép tế bào gốc đồng loài là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích kết quả của phương pháp ghép tế bào gốc đồng loài trong điều trị lơ xê mi cấp dòng tủy. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng về tỷ lệ thành công, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, cũng như những thách thức và tiềm năng của phương pháp này. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và bệnh nhân quan tâm đến các phương pháp điều trị tiên tiến cho bệnh ung thư máu.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị ung thư khác, bạn có thể tham khảo Luận án nghiên cứu biểu hiện dấu ấn tế bào gốc ung thư trong ung thư biểu mô tế bào gan, Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng cắt gan bằng phương pháp tôn thất tùng kết hợp takasaki điều trị ung thư tế bào gan, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ di căn não bằng hoá xạ trị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp điều trị hiện đại và hiệu quả trong lĩnh vực ung thư.