MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nhiều thập kỉ vừa qua, câu hỏi liệu rằng trí tuệ chỉ là một chỉ số hay cần được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau luôn là vấn đề gây tranh cãi. Bằng vô số các nghiên cứu và bằng chứng thực nghiệm, nhà thần kinh học, tiến sĩ Howard Gardner đã chỉ ra rằng trí tuệ của con người mang tính đa dạng, gồm nhiều loại trí tuệ khác nhau. Trong cuốn sách Frames of Mind : The Theory of Multiple Intelligences (1993), Howard Gardner đã đưa ra định nghĩa về trí tuệ “là khả năng giải quyết vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm có giá trị trong một hoặc nhiều điều kiện môi trường” [33].
Gần hai thập kỉ sau, ông định nghĩa lại trí tuệ “là một tiềm năng tâm - sinh lý học để xử lí thông tin, có thể được kích hoạt trong môi trường nhất định để giải quyết vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm có ý nghĩa” [34]. Như vậy, trí tuệ gồm nhiều loại khác nhau, được kích hoạt và phát triển tốt nhất trong từng môi trường cụ thể. Điều này có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng phương pháp giảng dạy và áp dụng tại nhà trường. Quan điểm cần khơi gợi tiềm năng ở học sinh (HS) và tạo điều kiện cho các em được phát huy sở trường theo đúng loại kiểu trí tuệ của bản thân được các nhà nghiên cứu giáo dục ủng hộ, có thể điểm đến một số cái tên nổi bật như Breaux và Magee (2010) ; Tomlinson (2001),.
Như vậy, người học có những đặc điểm trí tuệ, khả năng nổi trội trong các lĩnh vực khác nhau tương ứng với khả năng tiếp thu theo những cách thức khác nhau. Một thách thức được đặt ra trong công cuộc đổi mới giáo dục đó chính là giáo dục toàn diện, hướng tới mọi đối tượng học sinh, đáp ứng được nhu cầu của từng cá nhân, giúp mỗi cá nhân người học phát huy tối đa khả năng, thế mạnh của bản thân, cần khắc phục, hạn chế cách truyền thụ áp đặt, máy móc. 1 Dạy học phân hóa (DHPH) - Differentiated Instruction là chiến lược, mô hình dạy học đề cao sự khác biệt của người học. Đây là mô hình vận dụng nhiều hình thức tiếp cận, phương pháp tổ chức và cách đánh giá kết quả học tập khác nhau.
Với tính đa dạng như vậy, phương pháp học tập này giúp giải quyết các vấn đề khó khăn trong dạy học hiện nay như khơi gợi sự thích thú học tập của người học, đặc biệt là những HS có năng lực trung bình, yếu - kém hay những HS có thiên hướng nội tâm. Hơn thế nữa, DHPH giúp HS tôn trọng sự khác biệt trong lớp học nói riêng, trong cộng đồng nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững, đoàn kết của tập thể. Tổ chức DHPH dựa trên thuyết đa trí tuệ trong môn Khoa học tự nhiên (KHTN) 6 cho phép HS phát huy thế mạnh của bản thân, giáo viên (GV) chủ động thiết kế các họat động học tập phù hợp với phong cách học tập, mục tiêu học tập, năng lực nhận thức và hứng thú trong học tập của HS. Phần “Vật sống” thuộc chương trình KHTN 6 bao gồm 2 chủ đề cơ bản : tế bào - đơn vị cơ sở của sự sống ; đa dạng thế giới sống với nội dung kiến thức gần gũi, được xây dựng theo hướng tiếp cận qua các bậc cấu trúc sống từ tế bào tới cơ thể.
Nội dung được thiết kế thành các chủ đề nhỏ hơn, bao gồm nhiều họat động đa dạng như thực hành, trải nghiệm, thảo luận, quan sát và phán đoán khoa học. Vì vậy, chủ đề phù hợp với nhiều dạng trí tuệ khác nhau, đáp ứng và phát huy được sở trường của mỗi cá nhân HS. Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner trong dạy học phân hóa phần Vật sống, Khoa học tự nhiên 6 ở trường trung học cơ sở”. Mục đích nghiên cứu Thiết kế một số chủ đề theo hướng DHPH trong dạy học Phần Vật sống, KHTN 6, Trung học cơ sở (THCS) nhằm phát huy tối đa khả năng nổi trội ở mỗi HS, kích thích hứng thú học tập từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn KHTN 2 3.
Nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu các quan điểm DHPH, DHPH dựa trên thuyết đa trí tuệ, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn việc sử dụng DHPH và DHPH theo thuyết đa trí tuệ trong quá trình dạy học. - Đánh giá thực trạng sử dụng DHPH trong dạy học hiện nay ở các trường THCS. - Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung Phần Vật sống, KHTN 6 - THCS.
- Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức một số họat động theo hướng DHPH theo thuyết đa trí tuệ. - Đề xuất một số nội dung phần Vật sống trong chương trình KHTN 6 - Tiến hành soạn 04 giáo án áp dụng mô hình DHPH - Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài, sơ bộ đánh giá hiệu quả của DHPH theo thuyết đa trí tuệ đối với một số nội dung kiến thức KHTN 6. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng tiếp cận DHPH để tổ chức dạy học Phần Vật sống KHTN 6. - Thời gian: từ tháng 02/2022 đến tháng 11/2022.
- Địa điểm: trường THCS Cầu Giấy. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu - Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner - Dạy học phân hóa. - Nội dung Phần Vật sống, KHTN 6.
Khách thể nghiên cứu - Quá trình dạy học KHTN 6. Giả thuyết nghiên cứu 3 Nếu ứng dụng thuyết đa trí tuệ trong DHPH để tổ chức dạy học một số nội dung kiến thức phần Vật sống, KHTN 6 thì sẽ phát huy được khả năng nổi trội ở mỗi HS từ đó nâng cao được chất lượng dạy học môn KHTN. Phương pháp nghiên cứu 6. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner.
- Thu thập, phân tích, tổng hợp, bình luận các công trình nghiên cứu về DHPH trong dạy học. - Nghiên cứu và phân tích cấu trúc nội dung chương trình sách giáo khoa (theo tài liệu chuẩn kiến thức) và các tài liệu về KHTN 6 làm cơ sở cho việc xây dựng kế họach DHPH KHTN 6 - THCS. Phương pháp điều tra, khảo sát - Khảo sát, điều tra về thực trạng dạy học và hiểu biết về DHPH trên các đối tượng: GV; HS. - Điều tra thực trạng giảng dạy và học tập môn KHTN nói chung và KHTN 6 THCS nói riêng.
- Điều tra năng lực của HS để thiết kế các kế hoạch DHPH ứng dụng thuyết đa trí tuệ. - Điều tra về chất lượng HS ở các lớp để lựa chọn lớp thực nghiệm và đối chứng. Phương pháp tham vấn chuyên gia - Tham khảo ý kiến các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm: chuyên gia, cán bộ quản lý, GV, HS về DHPH, thuận lợi và khó khăn khi triển khai DHPH. Phương pháp thực nghiệm sư phạm - Tổ chức giảng dạy thực nghiệm, phát phiếu điều tra, so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau quá trình thực nghiệm ở từng lớp và giữa các lớp nhằm kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài.
Lớp thực nghiệm (TN) là lớp 4 được tiến hành giảng dạy theo mô hình lớp học phân hóa. Lớp đối chứng (ĐC) là lớp được tiến hành giảng dạy theo phương pháp truyền thống. Phương pháp thống kê toán học - Phân tích kết quả thực nghiệm bằng phương pháp phân tích định lượng và phân tích định tính. - Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm bằng các phần mềm Excel và đối chiếu với mục tiêu nghiên cứu, rút ra kết luận.
Những đóng góp mới của đề tài - Hệ thống hóa và làm sáng tỏ quan điểm DHPH, các cơ sở phương pháp luận của DHPH. - Khảo sát thực tiễn, từ đó rút ra kết luận về thực trạng việc vận dụng quan điểm DHPH ở trường THCS. - Đề xuất nguyên tắc, quy trình thiết kế và tổ chức DHPH ứng dụng thuyết đa trí tuệ để lựa chọn một số nội dung trong chương trình KHTN 6 có thể tiến hành DHPH theo thuyết đa trí tuệ. - Thiết kế được các họat động học tập phù hợp với đặc điểm trí tuệ của HS.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Trên thế giới 1. Nghiên cứu về ứng dụng thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner trong giáo dục Thuyết đa trí tuệ được nghiên cứu và công bố bởi tiến sĩ, nhà thần kinh học Howard Gardner, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1983.
Thuyết đa trí tuệ công nhận trí tuệ của con người mang tính đa dạng, cần được nhìn nhận bằng nhiều cách. Trong cuốn sách Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences (1993) (tạm dịch: cơ cấu của trí tuệ: thuyết đa trí tuệ), H. Gardner đã chỉ ra quan niệm sai lầm nhưng lại phổ biến thời bấy giờ, cho rằng trí tuệ là một năng lực chung duy nhất mà mỗi cá nhân sở hữu ở một mức độ nhất định. Với vô số bằng chứng, Gardner đã chứng minh sự tồn tại của nhiều loại trí tuệ khác nhau, mỗi trí tuệ đều quan trọng.
Ông giải thích: "Có bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của một số năng lực trí tuệ tương đối tự chủ của con người có thể được tạo dựng và kết hợp theo nhiều cách thích ứng bởi các cá nhân và nền văn hóa. Gardner mô tả trí tuệ là “tiềm năng tâm lý sinh học để xử lý thông tin theo những cách nhất định, nhằm giải quyết vấn đề hoặc tạo ra sản phẩm có giá trị trong một hoặc nhiều môi trường văn hóa” (Gardner, The Theory 3). Thuyết đa trí tuệ đã khẳng định mỗi con người đều tồn tại ít nhất 8 loại năng lực tư duy, trong đó có những tư duy nổi trội hơn cả, quyết định thế mạnh, sở trường của bản thân. Mặc dù vậy, Gardner cũng khẳng định, trí tuệ là đơn vị khó có thể đo lường một cách chính xác tuyệt đối.
Để xác định loại trí tuệ hay loại năng lực tư duy, cần quá trình quan sát trẻ bởi lẽ ngay từ tuổi đi học, mỗi đứa trẻ đều bộc lộ thiên hướng phát triển theo kiểu trí tuệ đặc trưng của bản thân. Thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner đã được các nhà giáo dục ca ngợi 6 trong nhiều thập kỷ và được áp dụng tại hàng trăm trường học trên thế giới. Một trong số đó phải kể tới ứng dụng trong giảng dạy và giáo dục của Thomas Armstrong [2].