CHƯƠNG 1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU CÂU TRÚC 1. Công tác khảo sát dia chan Một trong những ứng dung của lý thuyết đàn hồi là khảo sát địa chan phục vụ tìm kiếm thăm dò các mỏ trong công nghiệp dầu khí. Phương pháp này sử dụng nguồn phát xung đao động đàn hồi trên mặt đất hoặc biến, nguồn có thể là thuốc nỗ (Dynamic), súng hơi (Air gun), máy tạo xung (Vibrator).sẽ được giới thiệu chỉ tiết trong chương 2 ở phần thu nỗ thực địa VSP. Máy thu có thé là Hydrophone (đo ghi sự thay đối áp suất tác động lên sensor) trong địa chấn biển và Geophone (đo ghi sự dịch chuyển của các hạt vật chất tác động lên sensor) trong địa chan đất liền.
Nguồn sẽ phát xung dao động di sâu vào môi trường đất đá, khi sóng truyền tới các ranh giới (mặt phản xạ) có sự tương phản về tính chất vật lý của đất đá (mật độ và vận tốc) sẽ xảy ra hiện tượng phản xạ và khúc xạ. Một phan năng lượng của sóng tới chuyển thành sóng phản xa đi lên bề mặt (mặt biển hoặc mặt đất) nơi đặt các máy thu để chi nhận các thành phần dao động nay. Phan còn lại là sóng khúc xa sẽ tiếp tục đi xuống, khi gặp các ranh giới sé lại tiếp tục tách thành hai thành phân sóng phản xạ đi lên và khúc xạ đi sâu xuống. Tùy thuộc vào yêu cau nghiên cứu chi tiết và giai đoạn phát triển của mỏ ma người ta sẽ lựa chọn các phương pháp khảo sát địa chan 2 chiều (2D — Dimmention), 3 chiều (3D), 4 chiều (4D), 4 thành phan (4C — Component) va địa chan đa phương vi (Multi Azimuth, Wide azimuth, Full Azimuth).
Địa chan 2 và 3chiéu (2D & 3D) 2D Seismic s_ Single source and streamer e Airgun sources e Fired every 10-12 seconds * Speed 5knots / 9km Hinh 1.1: Dia chan 2D Trong công tác tim kiếm thăm dò ban đầu với mục đích nghiên cứu cấu kiến tao khu vực và tìm kiếm cấu tạo dầu khí triển vọng, khảo sát địa chan 2 chiều (2D Seismic) thoả mãn được yêu cau đó với độ chi tiết và tin cậy chấp nhận được và chi phí hợp lý. Dé có đủ cơ sở chỉ định giếng khoan, khảo sát dia chan 3 chiều (3D Seismic) là bat buộc dé giảm thiểu rủi ro. Do đó địa chấn 2D ít được sử dụng phục vụ công tác tận thăm dò. 3D Seismic Spread Hình 1.
Dia chan 4 chiều (4D) Công tác khảo sát địa chan hiện nay đang được áp dụng phục vụ công tác tận thăm dò là địa chan 3D, có thé gọi là địa chan 4 chiều (4D) trên khu vực đã tiến hành khảo sát dia chan 3D trước đó.3: Cube số liệu và lát cắt thời gian (Time slice) cua dia chan Vùng mỏ sau một thời gian khai thác sẽ có những biến đổi cả về thé tích, lưu lượng chất lưu (dầu, khí và nước). Sự thay đôi này được thể hiện khi đem so sánh hai khối tài liệu 3D với nhau. Lưu ý, khảo sát địa chan 4D phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện về nguồn no, máy thu (về chiều dài cáp, số máy thu, công suất nguồn, toa độ, hệ số khuyếch đại.) và qui trình xử lý đúng theo khảo sát trước đó. 4D (Time-Lapse) Seismic 0 S,< indicator 1 Nochange Hình 1.4: Ban đồ thuộc tính biên độ cầu trúc mỏ Gullfaks, North sea cho thấy sự thay doi của hydrocarbons về vị trí, diện tích và thể tích ở ba thời điểm khác nhau của mỏ.
Địa chấn 4 thành phần (4 Component — 4C) Khảo sát có thé được tiến hành cả trên biến và đất liền, với hệ thống cáp gồm một chuỗi các máy thu, mỗi máy thu gồm 3 geophone theo 3 hướng vuông góc với nhau tiếp xúc trực tiếp với đáy biển và 1 hydrophone đặt lơ lửng trong nước. Nguôn là tổ hợp các sung hơi có công suất lớn, dai tần cao va rất ôn định. Các máy thu geophone đặt dưới đáy biển cho phép thu đc sóng đến từ các hướng khác nhau bao gồm cả sóng dọc va sóng ngang. Tiến hành 3C processing cho phép nghiên cứu sâu hơn về tính chất đàn hoi cua dat đá và tao được mặt cat địa chan cho sóng ngang.
Seabed 4 Seismic Bea-bed Recorded Shear Waves is 3-Component Geophones Converted from P-waves and Hydrophones on the Seabed Hình 1. Mô hình khảo sát dia chan 4C 1. Khao sát địa chan đa phương vị (wide azimuth) - Ban chất của công nghệ là khảo sát địa chan 3D nhưng được nô và thu theo nhiều phương khác nhau. Điều này cho phép quan sát đối tượng theo nhiều hướng khác nhau, (có thé nói là phương pháp dia chan 3D thực sự) giúp tăng tỷ số tín hiệu và nhiễu, cho phép dịch chuyển dia chan chính xác, các cau tạo thu được sẽ phản ánh sát với thực tẾ, cho phép nghiên cứu cả các đặc điểm về nứt nẻ và cau tạo tầng sản phẩm phức tạp được chỉ tiết hơn.
Single Azimuth Multiazimuth (MAZ) = Wide Azimuth (WAZ) Rich Azimuth (RAZ) Hình 1.6: Các công nghệ thu nỗ khác nhau và biếu đồ thé hiện mức độ bội phủ tương ứng của các điểm phan xạ sóng. Công nghệ Rich Azimuth quan sát đối tượng theo moi phương sẽ đem lại bức tranh về đối tượng đây đủ và xác thực nhất. Công nghệ này thường được áp dụng cho những khu vực có cấu tạo địa chất phức tạp.7: Công nghệ thu nồ Full-Azimuth một tàu kéo của Western Geco cho phép khắc phục nhược điểm về thời gian chạy tàu của Multiazimuth và số lượng tàu của Wide Azimuth.8: Mặt cắt theo chiêu sâu của công nghệ thu nỗ Full-Azimuth chạy theo vòng tron (Coil Shooting) đã được thứ nghiệm ở vịnh Mexico và vung bién Đen (Black Sea) 5 co? 9 ey x" Kes Pe ay S Rae OE oe Ny1/‹⁄ & io 3Cag ar aes ri.9: Mặt cat dia chấn khảo sát tại vùng biên Đen sử dụng hai cấu hình khảo sát khác nhau. Bên phải là mặt cat địa chấn thu nồ theo cách tàu chạy vòng tròn trên cấu tạo (Coil Shooting), bên trái là mặt cat thu được bằng cách thu nô 3D thông thường (Single Azimuth) sử dụng công nghệ Q-Marine của Western Geco.
Tài liệu thu nỗ bằng phương pháp (Coil Shooting — Rich Azimuth) cho phép tang độ phân dai của đứt gấy và chỉ tiết hóa phan móng của đới ám tiêu cacbonat (xem phan mặt cắt được khoanh ở hình clip màu da cam) Hình 1.10: Bản đồ cấu trúc ranh giới sinh dau chính cua mỏ Varg trong vùng biển Bắc (North Sea). Hình bên trái sứ dụng công nghệ Multi-Azimuth shotting cho một bức tranh về cầu trúc mỏ chỉ tiết hơn nhiều so với công nghệ truyền thong Single-Azimuth. Công tác quản lý mỏ ngay lập tức được thay đổi thích hop và thực tế đã tiến hành được hai giếng khoan thành công trên cơ sở công nghệ mới này. Hiện nay vé công nghệ thu no đa phương vị có hai công ty đang dẫn dau là Schlumberger — Western Geco (Western Geco) và CGG Veritas.
Trong đó CGG Veritas đang phát triển theo hướng Wide Azimuth. Và trong nửa cuối năm 2010 Western Geco đã phát triển công nghệ Full-Azimuth (Coil shooting) lên mức cao hơn là Dual Coil Shooting bằng cách sử dụng hai tàu kéo nguồn nỗ và cáp thu và hai tau chỉ kéo nguồn nỗ riêng biệt chạy theo vòng tròn với đường kính khoảng 12-15km. Các tàu này sẽ được định vị một cách tự động để duy trì vi trí của nguon va khoang cach déu giữa các tram máy thu.11: Công nghệ Dual Coil Shooting sử dung hai tau kéo với day đủ nguồn nỗ (SI và S3) và máy thu và hai tau chỉ kéo theo nguồn no (S2 và S4). Công tác ĐVLGK Địa chan trên mặt có lợi thé là phạm vi nghiên cứu trên khu vực rộng lớn, chỉ ra được qui mô của các cấu tạo với chi phí rẻ.
Tuy nhiên đây là phương pháp nghiên cứu gián tiếp, cách xa đối tượng nhờ vào trường sóng phản xạ tại các mặt ranh giới địa chấn thu được tại các máy thu, sử dụng nguồn có dài tần thấp 5-60Hz. Khi sóng truyền vào đất đá, cả năng lượng và tan số đều bị suy giảm dẫn đến việc giảm độ phân dải thang đứng và nằm ngang. Địa vật lý giếng khoan là việc nghiên cứu các tính chất vật lý của đất đá trực tiếp trên vết lộ (thành giếng khoan — Openhole) hoặc qua thành ống chống (casing — Casehole) sử dụng các loại nguon có tần số rất cao (1khz-10khz), bước lay số liệu nhỏ, do đó độ phân dải và độ tin cậy cũng cao hơn rất nhiều. Tuy nhiên độ sâu nghiên cứu vào trong thành hệ đất đá không lớn (lớn nhất trong giếng tran là 250cm đối với phương pháp induction Log và với giếng khoa đã chống ống là 9.75m đối với phương pháp đo điện trở sâu — Cased Hole Formation Resistivity - CHFR) và chịu ảnh hưởng của điều kiện giếng.
Các đường log và mẫu lõi vẫn luôn là thông tin đầu vào chủ chốt để các kỹ sư đánh giá tiềm năng dau khí của mỏ, phương pháp bao gồm: + Tổ hợp các phương pháp điện trở. + Tổ hợp các phương pháp phóng xạ. + Tổ hợp các phương pháp sóng âm. + Tổ hợp các phương pháp đo áp suất.
+ Tổ hợp các phương pháp phân tích mẫu lõi và mùn khoan. Việc kết hợp các đường log cho phép xác định các đặc trưng của thành hệ dễ dàng và chính xác hơn: - Kết hợp đơn giản nhất là sự phân dị giữa các đường điện trở có chiều sâu nghiên cứu khác nhau cho phép khang định sự tôn tại lớp vỏ sét (Mud cake) từ đó khang định tính thắm của via. - Kết hợp các đường cong điện trở, SP sẽ tính được các thông số: Độ rỗng, độ bão hoà nước, độ bão hoà dau, độ bão hoà nước du. - Lập mối quan hệ giao cắt (Cross over) giữa hai đường NPHI và RHOB sẽ cho ta dấu hiệu ton tại HC (dau, khí, nước).
Giá trị đường GR cho phép tính hàm lượng sét Vsh để phục vụ cho các phép hiệu chỉnh ảnh hưỏng sét của các thông số: độ rong, độ thấm, độ bão hoà nước, tướng môi trường. - Số liệu sonic cho phép xác định các tham số đàn hỏi của đất đá xây dựng mô hình đàn hồi phục vụ công tác khoan, nhận biết dẫu hiệu Hydrocarbon. - Lập biểu đồ cat (Cross plot) cho phép giải đoán về thành phan thạch học (lithology) cua đất đá thành hệ, phân biệt các loại đá chứa dau, khí, nước.